Khoản 1 Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chốhg trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.
Điều kiện của phòng vệ chính đáng:
- Điều kiện thứ nhất: Có hành vi xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức
Hành vi xâm hại vào quyền và các lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức là hành vi xâm hại vào những lợi ích nằm trong các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Nếu hành vi xâm hại vào lợi ích bất hợp pháp, lợi ích không được pháp luật bảo vệ hay nói cách khác là những lợi ích phi pháp thì không được thừa nhận là điều kiện của phòng vệ chính đáng.
Trong thực tế, hành vi xâm hại thường được thể hiện bằng những hành vi như: Dùng dao đâm, chém; chiếm đoạt tài sản... Vì vậy, quy định về phòng vệ chính đáng có tính chất phòng ngừa và ngăn chặn đối với các hànhvi tấn công xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Xuất phát từ quan điểm này thì cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng của công dân là hành vi tấn công xâm hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên xã hội.
Theo quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015 thì hành vi tấn công xâm hại lợi ích hợp pháp, không nhất thiết phải là hành vi phạm tội, mà nó có thể bao gồm cả hành vi phạm tội và những hành vi nguy hiểm khác cho xã hội.
- Điều kiện thứ hai: Hành vi xâm hại vào quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ phải đang xảy ra.
Hành vi tấn công xâm hại vào các lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ phải đang xảy ra, tức là đang gây nên hậu quả hoặc đang đe dọa gây nên hậu quả cho những lợi ích hợp pháp cần phải được bảo vệ. Hành vi xâm hại đang xảy ra là hành vi đó đã được bắt đầu, nhưng chưa kết thúc. Như vậy, đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại ngay tức khắc là những hành vi có thật, đang diễn ra, đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc là điều kiện tiếp theo để xác định phòng vệ chính đáng.
Từ những phân tích trên có thể thấy: Nếu chưa có hành vi xâm hại xảy ra trong thực tế, mà đã có hành vi phòng vệ thì được coi là phòng vệ sốm và người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm hình sự khi gây thiệt hại ở mức độ đáng kể. Ngược lại, nếu hành vi xâm hạiđã thực sự chấm dứt nhưng lại có hành vi phòng vệ thì bị coi là phòng vệ muộn.
* Điểu kiện thứ ba: Thiệt hại gây ra của hành vi phòng vệ phải cho chính người có hành vi xâm hại.
Khi hành vi xâm hại đang xảy ra, đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại ngay tức khắc cho lợi ích cần được bảo vệ thì phải có hành vi phòng vệ để ngăn chặn, hạn chế sự xâm hại một cách kịp thời và có hiệu quả. Mục đích của hành vi phòng vệ là gạt bỏ được sự đe dọa gây thiệt hại đang xảy ra trong thực tế, đẩy lùi sự tấn công, ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra bồi chính người có hành vi xâm hại. Để đạt được mục đích trên cần thiết phải gây thiệt hại cho chính người đang có hành vi xâm hại vào các lợi ích cần được bảo vệ. Và chỉ gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại mới có thể ngăn chặn được hậu quả xảy ra, hành vi phòng vệ chính đáng mới có ý nghĩa. Vì vậy, thiệt hại gây ra cho chính người có hành vi xâm hại được coi là điều kiện tiếp theo của phòng vệ chính đáng.
* Điều kiện thứ tư: Hành vi chông trả lại hành vi xâm hại là cần thiết.
Tính cần thiết của hành vi chốhg trả phải thể hiện rõ ở sự cần phải có hành vi chống trả đó để kịp thời ngăn chặn hành vi tấn công xâm hại vào các lợi ích hợp pháp. Vì vậy, để xem xét tính cần thiết của hành vi phòng vệ đối với hành vi tấn công trong phòng vệ chính đáng đòi hỏi phải nhìn nhận một cách toàn diện,khách quan những tình tiết có liên quan đến việc thực hiện hai loại hành vi trên theo các nội dung sau đây:
+ Tầm quan trọng của quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ đang bị xâm hại.
+ Mức độ thiệt hại do hành vi xâm hại đang gây ra hoặc đe dọa gây ra ngay tức khắc.
+ Công cụ, phương tiện, phương pháp... được sử dụng để thực hiện hành vi tấn công xâm hại và hành vi phòng vệ.
+ Nhân thân của người có hành vi xâm hại.
+ Cường độ tấn công của người có hành vi xâm hại và cường độ phòng vệ của người có hành vi phòng vệ.
4- Địa điểm, hoàn cảnh, thời gian thực hiện hành vi tấn công xâm hại và hành vi phòng vệ...