Chế định phòng vệ chính đáng là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng nhất để loại trừ tính chất phạm tội của một hành vi, được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Đây là một quyền cơ bản của công dân, cho phép họ chống trả lại hành vi tấn công đang xâm phạm đến các lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, hoặc của Nhà nước, tổ chức. Mặc dù hành vi phòng vệ có thể gây ra thiệt hại đáng kể về tính mạng, sức khỏe, tài sản, nhưng nếu thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được pháp luật quy định, hành vi đó không bị coi là tội phạm và người thực hiện sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. 

 

1. Định nghĩa và ví dụ về phòng vệ chính đáng

1.1. Phòng vệ chính đáng là gì?

Theo quy định của Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, phòng vệ phát sinh khi “đang có hành vi xâm phạm” quyền hoặc lợi ích chính đáng của cá nhân hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức. Nếu coi hành vi xâm phạm là sự tấn công của con người thì cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ là sự tấn công của con người đang hiện hữu.

Như vậy, chỉ có thể nói đến phòng vệ chính đáng khi có hành vi của con người đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xã hội, có thể cho người dân, cho Nhà nước, cơ quan hoặc tổ chức. Thiệt hại đe dọa gây ra có thể cho quyền nhân thân (tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, ...) hoặc cho quyền sở hữu. Hành vi xâm phạm có thể là hành động (như hành động cướp, hành động hiếp dâm...) nhưng cũng có thể là không hành động (như bác sĩ không cấp cứu người bị tai nạn mà khồng có lí do chính đáng).

Hành vi xâm phạm có thể thoả mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nhưng không bắt buộc phải như vậy. Có hành vi không cấu thành tội phạm nhưng vẫn đòi hỏi phải được ngăn chặn kịp thời để tránh thiệt hại như hành vi đâm, chém người khác của người không có năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh tâm thần. Hơn nữa, khi đứng trước hành vi xâm phạm, không phải trong trường hợp nào cũng khẳng định được ngay đó là tội phạm hay không phải là tội phạm.

Hành vi xâm phạm là cơ sở của quyền phòng vệ chính đáng khi còn đang xảy ra hoặc đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc. “Đang xảy ra” hoặc “đe dọa sẽ xảy ra ngay tức khắc” là hai khả năng khác nhau của trường hợp mà BLHS gọi là “đang” có hành vi xâm phạm.

- Về khả năng thứ nhất: Điều luật đòi hỏi hành vi xâm phạm phải đang xảy ra vì khi hành vi xâm phạm đã thực sự chấm dứt thì cũng có nghĩa không đòi hỏi phải có hành vi ngăn chặn. Sự phòng vệ lúc này không phù hợp với mục đích của phòng vệ chính đáng.

Trường hợp phòng vệ khi hành vi xâm phạm đã thực sự chấm dứt được luật hình sự gọi là phòng vệ “quá muộn”. Trách nhiệm hình sự trong trường hợp này được giải quyết như trường hợp bình thường nếu đã cố ý phòng vệ quá muộn. Đối với trường họp phòng vệ “quá muộn” do nhầm tưởng thì trách nhiệm hình sự được giải quyết như các trường hợp sai lầm khác.

Hành vi phòng vệ xảy ra sau khi sự tấn công đã kết thúc vẫn có thể được coi là phòng vệ chính đáng nếu sự phòng vệ đi liền ngay sau sự tấn công để khắc phục thiệt hại do hành vi xâm phạm đã gây ra. Ví dụ: Người bị cướp giật đã đuổi theo và dùng vũ lực chống lại người cưóp giật để lấy lại tài sản vừa bị cướp giật.

- Về khả năng thứ hai: Khi hành vi xâm phạm chưa xảy ra nhưng có biểu hiện hành vi này sẽ xảy ra ngay tức khắc thì cũng cho phép phòng vệ. Sự cho phép này là cần thiết để tạo điều kiện chủ động cho người phòng vệ ngăn chặn kịp thời và có hiệu quả hành vi xâm phạm. Nếu chưa có biểu hiện hành vi xâm phạm sẽ xảy ra ngay tức khắc mà đã phòng vệ thì bị coi là phòng vệ “quá sớm” và trách nhiệm hình sự trong trường hợp này được giải quyết như trường hợp phòng vệ “quá muộn”.

1.2. Ví dụ về phòng vệ chính đáng

Một ví dụ cụ thể về trường hợp có thể được coi là phòng vệ chính đáng trong thực tiễn là vụ án liên quan đến ông M và bị cáo X.

Trong vụ việc này, ông M vô cớ và hung hăng cầm dao truy đuổi, chém bị cáo X. Ban đầu, X đã cố gắng bỏ chạy và chủ động xin lỗi để tránh xung đột. Tuy nhiên, khi bị ông M đuổi kịp và tiếp tục tấn công, X đã dùng một chiếc xẻng chống trả một cái vào đầu ông M để tước vũ khí và ngăn chặn hành vi tấn công. Sau khi ông M ngã xuống và không còn khả năng chống trả, X cũng ngừng việc chống trả và chỉ đè lên người ông M để khống chế.  

Theo phân tích của một số chuyên gia pháp lý, hành vi của X được cho là phù hợp và cần thiết để gạt bỏ sự tấn công nguy hiểm từ phía ông M. Hành vi chống trả chỉ diễn ra khi ông M đang trực tiếp gây nguy hiểm, và X đã dừng lại ngay sau khi tước được vũ khí, cho thấy hành vi của X là nhằm tự vệ chứ không phải để trả thù. Đây là một ví dụ cho thấy việc đánh giá một hành vi có phải là phòng vệ chính đáng hay không cần xem xét toàn diện các tình tiết, bao gồm cả yếu tố tâm lý và hoàn cảnh cấp bách của người phòng vệ.

1.3. Mối liên hệ với các căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự

Phòng vệ chính đáng là một trong những căn cứ quan trọng nhất để loại trừ trách nhiệm hình sự. Các căn cứ này bao gồm: phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, và các trường hợp khác do luật định. Bản chất của các căn cứ này là mặc dù hành vi gây ra thiệt hại trên thực tế, nó lại thiếu một trong các yếu tố cấu thành tội phạm, mà trong trường hợp của phòng vệ chính đáng, là thiếu tính trái pháp luật và tính nguy hiểm cho xã hội.  

Về mặt lý luận, một hành vi chỉ được coi là tội phạm khi nó có đủ bốn yếu tố: mặt khách quan (hành vi gây nguy hiểm cho xã hội), mặt chủ quan (lỗi), khách thể (quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị xâm hại), và chủ thể (người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự). Hành vi phòng vệ chính đáng, mặc dù gây thiệt hại (thỏa mãn một phần mặt khách quan), nhưng lại được thực hiện với mục đích bảo vệ các lợi ích hợp pháp, phù hợp với chính sách phòng, chống tội phạm của Nhà nước. Do đó, hành vi này không bị coi là có tính chất nguy hiểm cho xã hội và bị loại trừ khỏi phạm vi điều chỉnh của luật hình sự. 

 

2. Nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ chính đáng

Khi đã có cơ sở cho phép phòng vệ, người phòng vệ có quyền chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm ngay cả trong trường hợp có biện pháp khác tránh được hành vi này. Đó là nội dung và phạm vi của quyền phòng vệ mà Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã xác định.

Theo Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, hành vi chống trả của người phòng vệ phải nhằm vào người đang có hành vi xâm phạm, vì có như vậy mới đạt được mục đích của phòng vệ chính đáng là ngăn chặn hành vi xâm phạm, ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại mà hành vi này có thể gây ra. Sự chống trả này của người phòng vệ có thể trực tiếp nhằm vào người tấn công (tính mạng, sức khoẻ, tự do) hoặc có thể chỉ nhằm vào công cụ, phương tiện phạm tội mà người đó đang sử dụng. Dù bằng cách nào thì sự chống trả đều có thể gây thiệt hại nhất định cho người có hành vi xâm phạm.

Sự chống trả của người phòng vệ, theo Điều 22 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là sự chống trả “cần thiết”. Điều này có nghĩa biện pháp chống ttả của người phòng vệ (phương tiện, phương pháp, thiệt hại) đặt trong hoàn cảnh cụ thể phải là biện pháp cần thiết để có thể ngăn chặn được hành vi xâm phạm, ngăn ngừa hoặc hạn chế thiệt hại mà hành vi này có thể gây ra.

Như vậy, khi xác định phòng vệ chính đáng, không được phép so sánh đơn thuần giữa thiệt hại đã gây ra cho người có hành vi xâm phạm và thiệt hại mà người có hành vi này đe dọa gây ra. Phòng vệ chính đáng không phải là biện pháp trả thù mà là biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội. Mục đích này chỉ có thể đạt được ttong nhiều trường hợp bằng cách phải gây ra thiệt hại lớn hơn cho người có hành vi xâm phạm. Việc đặt vấn đề so sánh hai thiệt hại ttong nhiều trường hợp cũng không thực tế, vì có thể tính chất của hai loại thiệt hại - thiệt hại bị đe dọa gây ra và thiệt hại mà người phòng vệ gây ra hoàn toàn khác nhau như trong trường hợp phòng vệ đối với hành vi hiếp dâm. Tuy nhiên, thiệt hại gây ra cho người có hành vi xâm phạm là một yếu tố thể hiện tính chất và mức độ của hành vi chống trả cho nên chỉ được phép ở mức độ nhất định để có thể đảm bảo tính cần thiết của sự chổng trả.

Phòng vệ chính đáng cũng không đòi hỏi phương pháp, phương tiện người phòng vệ được phép sử dụng phải tương tự với phương pháp, phương tiện người có hành vi xâm phạm sử dụng. Đòi hỏi như vậy là không thực tế và không phù hợp vói mục đích của phòng vệ chính đáng.

Tóm lại, phòng vệ chính đáng đòi hỏi biện pháp chống trả nói chung (trong đó bao gồm có phương tiện, phương pháp và thiệt hại) là biện pháp cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm đặt trong hoàn cảnh cụ thể.

Đe đánh giá sự cần thiết và phù hợp này, trước hết cần phải dựa vào những căn cứ sau:

  • Tính chất của quan hệ xã hội bị đe dọa xâm phạm;
  • Mức độ thiệt hại bị đe doạ gây ra;
  • Sức mạnh và sức mãnh liệt của hành vi xâm phạm;
  • Tính chất và mức độ nguy hiểm của phương pháp và phương tiện hay công cụ mà người có hành vi xâm phạm sử dụng;
  • Khả năng phòng vệ của người phòng vệ đặt trong hoàn cảnh cụ thể v.v..

Việc đánh giá này ttong thực tế là việc hết sức phức tạp. Điều đó đối với người phòng vệ lại càng không phải là đơn giản: "... người phải phòng vệ có khi không thể có điều kiện để bình tĩnh lựa chọn được chính xác phương pháp, phương tiện chong trả thích hợp, nhất là trong trường hợp họ bị tấn công bất ngờ".

Do vậy, sự cần thiết nói trong phòng vệ chính đáng chỉ đòi hỏi là sự cần thiết tương đối. Trường hợp không cần thiết nhưng sự không cần thiết đó không rõ ràng cũng được coi là trường hợp cần thiết.

 

3. Điều kiện phòng vệ chính đáng

Hành vi tấn công xâm hại lợi ích hợp pháp – cơ sở làm phát sinh quyền Phòng vệ chính đáng: lợi ích hợp pháp là những quyền của Nhà nước, tổ chức và công dân được pháp luật quy định như quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm…những hành vi chống trả để bảo vệ lợi ích bất hợp pháp không được coi là phòng vệ chính đáng.

Hành vi tấn công phải có thật và đang diễn ra chứ không phải do suy đoán tưởng tượng.

Phòng vệ chính đáng phải gây ra thiệt hại cho chính người đang có hành vi tấn công: vì có như vậy nguồn gốc làm phát sinh hành vi tấn công xâm phạm lợi ích hợp pháp mới bị loại trừ tận gốc. Hành vi của người phòng vệ chỉ được chống trả gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho người có hành vi tấn công.

– Giữa hành vi phòng vệ và hành vi tấn công phải có sự tương xứng. Sự tương xứng không có nghĩa là sự ngang bằng theo nghĩa cơ học, người tấn công sử dụng công cụ phương tiện gì thì người phòng vệ cũng sử dụng công cụ phương tiện đó hoặc hành vi tấn công gây thiệt hại đến mức nào thì người phòng vệ cũng được gây thiệt hại đến mức độ đó. Sự tương xứng ở đây được hiểu là sự tương xứng về tính chất và mức độ được xác định dựa vào các yếu tố chủ quan và khách quan.

 

4. Dấu hiệu của phòng vệ chíng đáng

Để một hành vi được công nhận là phòng vệ chính đáng, nó phải đáp ứng đồng thời cả hai nhóm dấu hiệu: về hành vi tấn công và về hành vi phòng vệ.   

4.1. Về hành vi tấn công

Hành vi tấn công là có thật và trái pháp luật: Quyền phòng vệ chỉ phát sinh khi có một hành vi xâm hại thực tế, đang xảy ra hoặc đe dọa xảy ra ngay lập tức. Hành vi này phải là hành vi trái pháp luật, không được pháp luật cho phép. Ví dụ, hành vi chống lại một người đang thực thi công vụ hợp pháp (như cảnh sát đang truy bắt tội phạm) sẽ không được coi là phòng vệ chính đáng, trừ khi người thi hành công vụ đã thực hiện hành vi trái pháp luật.   

Hành vi tấn công có tính nguy hiểm đáng kể: Không phải mọi hành vi xâm hại đều làm phát sinh quyền phòng vệ. Hành vi đó phải có mức độ nguy hiểm nhất định, đủ để đe dọa các lợi ích được pháp luật bảo vệ. Các hành vi nhỏ nhặt, không đáng kể sẽ không làm phát sinh quyền này. Mức độ nguy hiểm này có thể là nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, v.v..   

Hành vi tấn công đang diễn ra hoặc đe dọa xảy ra ngay tức khắc: Đây là yếu tố quyết định về mặt thời điểm. Quyền phòng vệ chỉ tồn tại trong suốt quá trình hành vi xâm hại đang xảy ra. Nếu hành vi tấn công đã kết thúc (ví dụ, kẻ tấn công đã bỏ chạy, đã bị khống chế) hoặc chưa thực sự bắt đầu, hành vi chống trả sẽ không còn là phòng vệ chính đáng mà có thể trở thành một tội phạm khác. Tuy nhiên, pháp luật cũng thừa nhận quyền phòng vệ trong trường hợp hành vi tấn công tuy chưa xảy ra nhưng đã có những dấu hiệu đe dọa thực sự và tức khắc, như khi kẻ tấn công đã chuẩn bị hung khí và tiến gần đến người bị hại với ý định xâm hại.   

4.2. Về hành vi phòng vệ

Mục đích phòng vệ: Hành vi phải được thực hiện vì mục đích bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình hoặc người khác. Nếu mục đích là trả thù, hoặc thực hiện một hành vi phạm tội khác dưới vỏ bọc phòng vệ, thì hành vi đó không còn được coi là chính đáng.   

Gây thiệt hại cho chính người tấn công: Hành vi phòng vệ chỉ được phép gây thiệt hại cho chính người đang có hành vi xâm phạm, không được gây thiệt hại cho người thứ ba. Thiệt hại này có thể là về tính mạng, sức khỏe, hoặc tài sản của người tấn công. Ví dụ, trong trường hợp một kẻ tấn công A cầm dao tấn công B, nếu B dùng gậy đánh A thì đó là phòng vệ chính đáng. Nhưng nếu B lại đánh C (người đứng ngoài cuộc) thì đó không phải là phòng vệ.   

Tính "cần thiết" của hành vi phòng vệ: Đây là dấu hiệu phức tạp nhất, đòi hỏi sự đánh giá toàn diện. "Cần thiết" không có nghĩa là phải "ngang bằng" về mức độ thiệt hại hay công cụ, mà là hành vi phòng vệ đủ để ngăn chặn hoặc đẩy lùi hành vi tấn công.   

Ví dụ thực tiễn: Một cảnh sát cơ động bắn vào tay một tên tội phạm đang uy hiếp con tin bằng dao để bảo vệ tính mạng con tin. Hành động này được coi là phòng vệ chính đáng vì nó cần thiết để ngăn chặn một nguy cơ chết người, dù hành vi phòng vệ đã gây ra thương tích cho người tấn công. Tương tự, một người bị tấn công trong nhà riêng bởi một kẻ có vũ khí, người này đã sử dụng một cái ghế hoặc vật dụng khác để chống trả. Hành vi đó được coi là phòng vệ chính đáng vì nó cần thiết để bảo vệ tính mạng bản thân, dù thiệt hại gây ra có thể lớn hơn.   

4.3. Hậu quả pháp lý 

Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, hành vi phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. Do đó, người thực hiện hành vi này sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, kể cả khi hành vi của họ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tấn công.   

Tuy nhiên, nếu hành vi chống trả "rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại," thì đó là hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Trong trường hợp này, người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định các tội danh cụ thể cho hành vi này:   

  • Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126 BLHS 2015): Người nào giết người trong trường hợp này có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Trường hợp phạm tội đối với 2 người trở lên có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm.   
  • Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 136 BLHS 2015): Người phạm tội có thể bị phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, tùy thuộc vào mức độ thương tật và hậu quả gây ra.   

Các quy định này thể hiện sự phân biệt rõ ràng giữa quyền tự vệ chính đáng (được bảo vệ) và việc lạm dụng quyền đó để gây ra thiệt hại không cần thiết (phải chịu trách nhiệm hình sự).

 

5. Phân biệt với các khái niệm tương tự

5.1. So sánh phòng vệ cchính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Sự khác biệt cốt lõi giữa hai khái niệm này nằm ở tính "cần thiết" của hành vi chống trả. Phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả nằm trong giới hạn cần thiết để ngăn chặn cuộc tấn công. Ngược lại, vượt quá giới hạn là hành vi chống trả "rõ ràng quá mức cần thiết".   

Như đã phân tích ở trên, sự thay thế thuật ngữ "tương xứng" bằng "cần thiết" trong Bộ luật Hình sự 1999 và 2015 là một bước tiến quan trọng. Trước đây, việc đánh giá "tương xứng" thường dẫn đến cách hiểu máy móc, cho rằng hành vi phòng vệ phải có mức độ thiệt hại gần bằng với hành vi tấn công. Sự thay đổi này cho phép người phòng vệ được phép sử dụng vũ khí hoặc phương tiện mạnh hơn để chống trả, miễn là hành động đó đủ để ngăn chặn hiệu quả hành vi xâm hại. Ví dụ, một người yếu sức có thể dùng hung khí để chống trả một kẻ tấn công to khỏe bằng tay không, nếu đó là cách duy nhất để tự vệ. Việc chuyển đổi này thể hiện một quan điểm pháp lý tiến bộ, dịch chuyển trọng tâm từ việc cân đo đong đếm thiệt hại một cách cơ học sang việc đánh giá tính hợp lý và hiệu quả của hành vi phòng vệ trong bối cảnh thực tế, từ đó khuyến khích công dân chủ động tham gia vào công tác phòng chống tội phạm, giảm thiểu tâm lý "thờ ơ, bàng quan". Tuy nhiên, chính sự linh hoạt này cũng đặt ra thách thức cho các cơ quan tố tụng khi xác định ranh giới mong manh giữa hai chế định này.   

5.2. Phân biệt phòng vệ chính đáng và sự kiện bất ngờ

Sự kiện bất ngờ, được quy định tại Điều 20 Bộ luật Hình sự 2015, là trường hợp người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó. Cả phòng vệ chính đáng và sự kiện bất ngờ đều là các căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự, nhưng chúng khác nhau về bản chất.  

Tiêu chí Phòng vệ Chính đáng Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng Sự kiện Bất ngờ
Căn cứ phát sinh Hành vi tấn công trái pháp luật, đang diễn ra hoặc đe dọa ngay tức khắc. Hành vi tấn công tương tự phòng vệ chính đáng, nhưng hành vi phòng vệ vượt quá mức cần thiết. Không có hành vi tấn công, chỉ là hành vi gây thiệt hại không lường trước.
Mục đích Ngăn chặn hành vi xâm phạm, bảo vệ lợi ích hợp pháp. Ban đầu là phòng vệ, sau đó vượt quá mức cần thiết. Không có mục đích gây thiệt hại.
Tính chất hành vi Chủ động chống trả, gây thiệt hại nhưng không phải là tội phạm. Chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, là tội phạm. Hành vi gây thiệt hại nhưng không có lỗi.
Hậu quả pháp lý Không phải chịu trách nhiệm hình sự. Chịu trách nhiệm hình sự nhưng được giảm nhẹ. Không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Điểm khác biệt cốt lõi là về yếu tố lỗi và mục đích hành vi. Trong phòng vệ chính đáng, người thực hiện hành vi có ý thức chủ động gây thiệt hại cho người tấn công với mục đích ngăn chặn và bảo vệ lợi ích hợp pháp. Mặc dù hành vi có ý chí, nhưng lại không có lỗi về mặt hình sự. Ngược lại, trong sự kiện bất ngờ, người thực hiện hành vi hoàn toàn không có lỗi (cố ý hoặc vô ý) đối với hậu quả xảy ra. Họ không thấy trước và không buộc phải thấy trước hậu quả nguy hại. Hành vi này không có ý chí gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
 

6. Thách thức và đề xuất hoàn thiện 

Một trong những vấn đề gây tranh luận lớn nhất là việc xác định tính "cần thiết" của hành vi phòng vệ, đặc biệt khi có sự chênh lệch lớn về sức mạnh, vũ khí hoặc số lượng giữa người tấn công và người phòng vệ. Chẳng hạn, một người yếu sức chống trả một kẻ to khỏe, hoặc việc sử dụng hung khí chết người để chống trả một hành vi tấn công bằng tay không. Mặc dù pháp luật đã chuyển từ "tương xứng" sang "cần thiết" để tạo sự linh hoạt, nhưng việc đánh giá hành vi đó có "rõ ràng quá mức cần thiết" hay không vẫn là một thách thức lớn, phụ thuộc nhiều vào nhận định chủ quan của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Ngoài ranh giới mong manh giữa phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn, các cơ quan tố tụng còn đối mặt với nhiều thách thức khác:

  • Yếu tố tâm lý: Hành vi phòng vệ thường diễn ra trong bối cảnh vụ án phức tạp, nhanh chóng, khi người phòng vệ ở trong trạng thái tâm lý hoảng loạn, không thể hoàn toàn kiểm soát hành vi. Việc đòi hỏi họ phải hành động một cách hoàn toàn lý trí để không vượt quá giới hạn là một yêu cầu khó khăn trong thực tế.   
  • Thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết: Việc thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể và định lượng về thế nào là "quá mức cần thiết" buộc các cơ quan tố tụng phải xem xét toàn diện nhiều yếu tố (khách thể, mức độ thiệt hại, vũ khí, cường độ tấn công...). Điều này không chỉ gây khó khăn cho việc xét xử công bằng mà còn ảnh hưởng đến tâm lý chủ động phòng chống tội phạm của người dân, bởi họ lo sợ rằng hành vi phòng vệ của mình có thể bị đánh giá là vượt quá giới hạn. 

Để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định phòng vệ chính đáng, báo cáo đề xuất các kiến nghị sau:

  • Ban hành văn bản hướng dẫn mới: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao cần sớm ban hành một Nghị quyết hoặc văn bản hướng dẫn mới, chi tiết và định lượng hơn về các dấu hiệu của hành vi phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn. Văn bản này cần làm rõ các tiêu chí đánh giá "tính cần thiết" và "quá mức cần thiết," thay thế cho Nghị quyết 02/HĐTP đã không còn phù hợp.
  • Phát triển án lệ: Tòa án nhân dân Tối cao cần chú trọng hơn nữa việc phát triển án lệ từ các vụ án liên quan đến phòng vệ chính đáng để tạo ra các tiền lệ pháp lý rõ ràng, giúp các Tòa án cấp dưới có cơ sở vững chắc để xét xử, giảm thiểu sự tùy nghi và bảo đảm tính công bằng.
  • Tăng cường đào tạo và nâng cao năng lực: Cần đẩy mạnh công tác đào tạo, tập huấn cho các cán bộ tố tụng về cách đánh giá toàn diện các tình tiết của vụ án, đặc biệt là trong bối cảnh hành vi phòng vệ diễn ra nhanh chóng, phức tạp. Việc này sẽ giúp các cán bộ có cái nhìn khách quan và chính xác hơn, tránh bỏ lọt tội phạm cũng như không làm oan người vô tội.

Kết luận

Chế định phòng vệ chính đáng trong pháp luật hình sự Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khuyến khích tinh thần chủ động đấu tranh phòng chống tội phạm. Bộ luật Hình sự 2015 đã có những tiến bộ đáng kể trong tư duy lập pháp bằng cách chuyển từ tiêu chí "tương xứng" sang "cần thiết," tạo sự linh hoạt và phù hợp hơn với thực tiễn.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể. Trân trọng./.