Trong thực tế, nhận thức của một người có thể là nhận thức đúng và cũng có thể là nhận thức sai. Khi thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại cho xã hội, chủ thể có thể có nhận thức liên quan đến hành vi này không phù hợp với thực tế hay nói cách khác họ có sai lầm. Trong đó có sai lầm không ảnh hưởng đến việc xác định lỗi và có sai lầm ảnh hưởng đến việc xác định lỗi. Từ đó, sai lầm của chủ thể có thể ảnh hưởng hoặc không ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự. Nghiên cứu các trường hợp sai lầm trong luật hình sự sẽ làm rõ hơn vẩn đề lỗi. Các sai lầm trong luật hình sự có thể nhóm thành một số nhóm sai lầm sau:

1. Sai lầm về pháp luật

Sai lầm vể pháp luật là sự hiểu lầm của chủ thể về tính chất pháp lí của hành vi của mình.

Sự hiểu lầm này có thể xảy ra theo các khả năng sau:

- Người có hành vi có tính gây thiệt hại hiểu lầm hành vi của mình là hành vi phạm tội nhưng thực tế luật không quy định hành vi đó là tội phạm. Trường hợp này là trường hợp không có hành vi phạm tội và vấn đề trách nhiệm hình sự không được đặt ra.

Ví dụ: Ngày 3/3, trong đợt càn quét các cơ sở mại dâm trá hình, chị A bị cơ quan công an bắt giữ và đưa về trụ sở vì có hành vi bán dâm. Chị A rất lo sợ mình bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Tuy nhiên, đối chiếu theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, hành vi bán dâm không phải là tội phạm trong Bộ luật hình sự, đồng nghĩa với việc chị A không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi bán dâm.

- Người có hành vi có tính gây thiệt hại cho rằng hành vi của mình không phải là hành vi phạm tội nhưng thực tế luật quy định hành vi đó là tội phạm. Trong trường hợp này, người thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại vẫn có lỗi nếu họ nhận thức được hoặc có thể nhận thức được tính gây thiệt hại cho xã hội của hành vi của mình vì dấu hiệu có lỗi không đòi hỏi chủ thể phải nhận thức được tính trái pháp luật hình sự của hành vi.

Ví dụ: Anh B có tham gia vào một vụ ẩu đả trong một lần đi ăn nhậu cùng bạn bè. Hậu quả của vụ ẩu đả đó khiến cho 2 người bên đối phương bị thương tật nặng, một người thương tật 12%, một người thương tật 35%. Anh B nghĩ rằng mình không phải là người trực tiếp gây ra thương tật chính, chỉ đứng cạnh đánh theo mấy cái, nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Khi bị cơ quan điều tra mời lên làm việc và thông báo sẽ chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát để hoàn tất thủ tục khởi tố với anh, anh B rất ngạc nhiên, cho rằng cơ quan điều tra đang làm sai quy định. Tuy nhiên, đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, hành vi của anh B vẫn cấu thành tội phạm. Cụ thể:

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

...."

Như vậy, tội cố ý gây thương tích còn có trường hợp phạm tội có tổ chức. Anh B tuy không phải là người trực tiếp gây ra thương tật chính cho nạn nhân, nhưng anh B đã cùng với người khác tham gia vào việc gây thương tích cho nạn nhân với lỗi cố ý. Do đó, anh B vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì hành vi của mình.

2. Sai lầm về sự việc

Sai lầm về sự việc là sự hiểu lầm của chủ thể về những tình tiết thực tế của hành vi của mình.

Có thể có những trường hợp sai lầm về sự việc sau:

* Sai lầm về khách thể:

Sai lầm về khách thể là sai lầm của chủ thể về tính chất của quan hệ xã hội là đối tượng của hành vi của mình. Cụ thể:

- Người phạm tội có hành vi nhằm xâm hại khách thể nhất định được luật hình sự bảo vệ nhưng không xâm hại được vì đã tác động (nhầm) vào đối tượng tác động không thuộc khách thể đó. Ví dụ: Định giết người (Điều 123 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhưng lại đâm (nhầm) vào đối tượng không phải là người...

- Người có hành vi phạm tội nhằm xâm hại khách thể nhất định được luật hình sự bảo vệ nhưng thực tế đã không xâm hại được vì đã tác động (nhầm) đối tượng tác động thuộc khách thể khác. Ví dụ: Định mua bán tài liệu bí mật nhà nước (Điều 337 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhưng thực tế mua bán tài liệu bí mật công tác (Điều 361 bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017)...

- Người có hành vi phạm tội không định xâm hại khách thể được luật hình sự bảo vệ nhưng thực tế đã xâm hại vì đã tác động (nhầm) đối tượng thuộc khách thể được luật hình sự bảo vệ. Ví dụ: Trong khi đi săn bắn đã bắn chết người do nhầm là thú...

Ở trường hợp thứ nhất và thứ hai, người có hành vi gây thiệt hại vẫn có lỗi cố ý và phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm cố ý mà họ muốn thực hiện.

Ở trường hợp thứ ba, người có hành vi gây thiệt hại không có lỗi cố ý nên chỉ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vô ý nếu họ có lỗi vô ý.

* Sai lầm về đối tượng:

Sai lầm về đối tượng là sai lầm của chủ thể về đối tượng cụ thể của đối tượng tác động mà hành vi tác động đến khi thực hiện tội phạm, cần phân biệt sai lầm về đối tượng với sai lầm về khách thể.

Ví dụ: Định giết A nhưng đã giết nhầm B vì tưởng B là A. Người phạm tội ttong trường hợp này không có sai lầm về khách thể vì không có sai lầm về đối tượng tác động (A hay B đều là người đang sống, đều là đối tượng tác động của tội giết người) mà chỉ có sai lầm về đối tượng cụ thể (giữa A và B) của cùng đối tượng tác động của tội giết người (Người đang sống). Sai lầm về đối tượng không ảnh hưởng đến lỗi cố ý của chủ thể vì lỗi cố ý ở đây chỉ đòi hỏi chủ thể nhận thức được tính gây thiệt hại của hành vi - tước đoạt tính mạng người khác, thấy trước hậu quả của hành vi đó - hậu quả chết người và mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả này) mà không đòi hỏi tính mạng của ai và hậu quả chết người gây ra cho ai. Do vậy, trong trường hợp nhầm lẫn này, chủ thể vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người.

Như vậy, sai lầm về đối tượng không ảnh hưởng đến lỗi cổ ý cũng như trách nhiệm hình sự về tội cố ý.

* Sai lầm về quan hệ nhân quả:

Sai lầm về quan hệ nhân quả là sai lầm của chủ thể trong việc đánh giá sự phát triển của hành vi đã thực hiện của mình.

Ví dụ: Người phạm tội nhằm bắn A để giết A nhưng đã bắn chệch vào B làm B chết. Trong trường hợp này, người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý mà họ muốn thực hiện và còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vô ý mà họ đã gây ra do sai lầm (nếu họ có lỗi vô ý).

* Sai lầm về công cụ, phương tiện:

Sai lầm về công cụ, phương tiện là sai lầm của chủ thể về tính chất của công cụ, phương tiện sử dụng khi thực hiện hành vi. Ví dụ: Định giết người bằng cách dùng thuốc ngủ liều cao nhưng đã dùng nhầm thuốc ngủ giả nên không gây ra hậu quả chết người... Trong những trường họp này, người có hành vi vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý mà họ muốn thực hiện. Trường hợp khác của dạng sai lầm này có thể là trường hợp chủ thể nhầm tưởng công cụ, phương tiện có khả năng gây ra hậu quả thiệt hại là không có khả năng đó nên sử dụng và gây ra tội phạm.

Ví dụ: Tưởng súng không có đạn nên đã bóp cò và làm chết người. Trong trường hợp này, chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội vô ý khi thoả mãn các dấu hiệu của lỗi vô ý.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực hình sự về tạm giam, tạm giữ khi điều tra hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê