1. Nhiệm vụ của luật thi hành án dân sự
Theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật này thì luật thi hành án dân sự Việt Nam có các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Luật thi hành án dân sự Việt Nam có nhiệm vụ thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong thi hiện được các mục tiêu của công cuộc cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự, luật thi hành án dân sự Việt Nam phải quy định các vấn đề về nguyên tắc thi hành án, thời hiệu thi hành án, thẩm quyền thi hành án, thủ tục thi hành án, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế thi hành án thật sự khoa học, cụ thể và phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam. Các quy định của luật thi hành án dân sự Việt Nam phải là cơ sở cho các hoạt động tổ chức thi hành án cùa cơ quan thi hành án dân sự và hoạt động tham gia thi hành án dân sự của các chủ thể khác, từ đó bảo đảm cho hoạt động tổ chức và tham gia thi hành án dân sự của các chủ thể được thuận lợi góp phần nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự.
- Luật thi hành án dân sự Việt Nam có nhiệm vụ tạo ra cơ chế kiểm tra, kiểm sát và giám sát việc tuân theo pháp luật của các hoạt động thi hành án dân sự, bảo đảm các hoạt động thi hành án dân sự được tiến hành đúng pháp luật. Hoạt động thi hành án dân sự là một trong số ít các hoạt động pháp lí phức tạp. Thực tế thi hành án dân sự cho thấy không phải trong tất cả các trường hợp các chủ thể tổ chức hoặc tham gia thi hành án dân sự đều thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của họ. Mặt khác, có trường hợp họ còn phải chịu sự tác động từ nhiều phía làm cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ trong thi hành án dân sự của họ có thể không đúng đắn. Để bảo đảm cho các hoạt động thi hành án dân sự được thực hiện đúng đắn và có hiệu quả, ngoài việc quy định khoa học và cụ thể về thời hiệu, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thi hành án, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tổ chức hoặc tham gia thi hành án v.v. thì luật thi hành án dân sự Việt Nam phải quy định cả cơ chế kiểm tra, kiểm sát và giám sát việc tuân theo pháp luật của các hoạt động thi hành án dân sự.
2. Lịch sử ra đời và phát triển của luật thi hành án dân sự ở Việt Nam
Chính thể cộng hoà ra đời đã mở ra trang sử mới về sự phát triển của dân tộc. Từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong đó chứa đựng các quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự như Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức các toà án và các ngạch thẩm phán; sắc lệnh số 130 ngày 19/7/1946 về thể thức thi hành án dân sự; Thông tư của Bộ tư pháp số 24/BK ngày 26/4/1949 về việc thi hành án hình và hộ; sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng ... Theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật này, ban tư pháp xã có nhiệm vụ, quyền hạn thi hành những lệnh, mệnh lệnh hoặc án của các toà án; ở những nơi nào đã có "'thừa phát lại thì đương sự có quyền nhờ thừa phát lại thi hành;
Thẩm phán toà án cấp huyện dưới sự kiểm soát của biện lí có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn, các án hộ mà chính toà án cấp huyện hay toà án cấp trên đã tuyên... Đây là các quy định mang tính nguyên tắc, đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật I về thi hành án dân sự Việt Nam sau này. Tuy vậy, do hoàn cảnh lịch sử lúc đó phải tập trung sức người sức của vào công cuộc kháng chiến cứu quốc nên các quy định về thi hành án dân sự được Nhà nước ban hành còn sơ sài và tản mạn.
+ Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1989:
Năm 1954, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn dưới ách thống trị của ngụy quyền Sài Gòn. Ở miền Nam, thời kì đầu ngụy quyền Sài Gòn vẫn cho áp dụng các quy định về thi hành án dân sự của các văn pháp luật cũ như quy định của Bộ luật dân sự, thương sự và tố tụng ban hành kèm theo Nghị định 16/3/1910, Nghị định số 111/BTP-ND ngày 4/2/1950 quy định sát nhân dân địa phương có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc chấp hành các bản án và các quyết định của toà án nhân dân. Trên cơ sở quy định Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1960 và Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 1960 các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục thi hành án dân sự như Thông tư của Thủ tướng Chính phủ số 01/TTg ngày 01/01/1966 về việc các cơ quan, xí nghiệp nhà nước, đơn vị quân đội giúp đỡ thi hành những bản án về hôn nhân và gia đình xử người công nhân, viên chức, quân nhân phải cấp tiền nuôi dưỡng vợ con, Thông tư của Toà án nhân dân tối cao số 01/NCPL ngày 11/02/1966 về việc chấp hành án bắt chịu phí tổn nuôi con, Thông tư của Toà án nhân dân tối cao số 04/NCPL ngày 14/4/1966 về việc chấp hành án về khoản bồi thường, Thông tư của Toà án nhân dân tối cao số 442/TC ngày 04/7/1968 về đẩy mạnh công tác thi hành án, Quyết định của Chánh án Toà án nhân dân tối cao sổ 186/TC ngày 13/10/1972 về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của chấp hành viên ...
Đến năm 1975, miên Nam hoàn toàn được giải phóng, đất nước thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự nói trên được áp dụng trong cả nước. Tuy nhiên, sau khi Nhà nước ban hành Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức toà án nhân dân năm 1981 thì công tác quản lí thi hành án dân sự được chuyển giao từ Toà án nhân dân tối cao sang cho Bộ tư pháp. Thực hiện các quy định này, ngày 18/7/1982 Bộ tư pháp và Toà án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên ngành số 472/TTLN về quản lí công tác thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước; ngày 28/5/1985 Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư sổ 637/TTTHA ngày 28/5/1985 về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự, trong đó quy định tương đối cụ thể về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự.
Như vậy, trong thời gian từ năm 1954 đến năm 1989 Nhà 07-89/TTLN ngày 10/12/1989 hướng dẫn việc bảo vệ cưỡng chế thi hành án; Thông tư liên ngành của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tài chính và Bộ tư pháp số 09-89/TTLN ngày 10/12/1989 hướng dẫn việc xét xử và thi hành án đối với các khoản tiền bồi thường, bồi hoàn, thanh toán tài sản, cấp dưỡng trong các bản án hình sự và dân sự trong tình hình hiện nay. Theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật này thì việc tổ chức thi hành án chì được thực hiện theo yêu cầu của đương sự và ửong thời hiệu yêu cầu thi hành án do pháp luật quy định; chấp hành viên là người chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tổ chức thi hành án dân sự và lực lượng cảnh sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ cưỡng chế thi hành án. Thực hiện các quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp lệnh này công tác thi hành án dân sự đã cỏ những thay đổi về chất, quyền tự định đoạt của đương sự trong thi hành án dân sự đã được tôn trọng và bảo đảm thực hiện.
Năm 1993, trước đòi hỏi của việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, để nâng cao hiệu quả của các hoạt động tư pháp ngày 21/4/1993 Nhà nước ban hành Pháp lệnh thi hành án dân sự mới thay thế Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989. Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 có hiệu lực từ ngày 01/06/1993 bao gồm bảy chương với 50 điều luật. So với Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 thì Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 quy định về thẩm quyền, thủ tục thi hành án dân sự, quyền hạn của chấp hành viên và việc xử lí vi phạm trong thi hành án dân sự tương đối cụ thể hơn. Hơn nữa, theo Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 thì toà án không chịu trách nhiệm tổ chức thi hành án dân sự, việc tổ chức thi hành án dân sự do cơ quan thi hành án dân sự thuộc các cơ quan tư pháp địa phương đảm nhiệm. Tuy thuộc các cơ quan tư pháp địa phương nhưng cơ quan thi hành Pháp lệnh này như quyền yêu cầu thi hành án của người phải thi hành án, phí thi hành án, miễn giảm Thi hành án, kết thúc Thi hành án ... Tiếp đó, Nhà nước đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này như Nghị định của Chính phủ số 173/2004/NQ-CP ngày 30/9/2004 quy định về thủ tục cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự; Nghị định của Chính phủ số 164/2004/NĐ-CP ngày 14/9/2004 quy định về kê biên, bán đấu giá quyền sử dụng đất để thi hành án; Thông tư của Bộ quốc phòng số 117/2005/TT- BQP ngày 12/8/2005 hướng dẫn việc xử lí tài sản tịch thu theo bản án, quyết định của toà án quân sự và trách nhiệm của đơn vị quân đội được thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ công an và Bộ tài chính số 02/2005/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-B,n>-BCA-BTC ngày 17/6/2005 hướng dẫn việc miễn, giảm thi hành án đối với khoản tiền phạt và án phí; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2005/QĐ-TTg ngày 09/6/2005 về việc hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án dân sự; Thông tư của Bộ tài chính số 86/2005/TT-BTC ngày 3/10/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 136/2005/QĐ-TTg ngày 09/6/2005 về việc hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch I của Bộ tài chính và Bộ tư pháp số 68/2008/TTLT-BTC-BTP ngày 21/7/2008 về hướng dẫn chế độ thu, nộp, quản lí và sử dụng phí thi hành án ...
Mặt khác, trong khoa học pháp lí từ trước vẫn coi thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động tư pháp mà cụ thể là hoạt động tố tụng dân sự. Vì vậy, trong Bộ luật tố tụng dân sự được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 15/6/2004 cũng có quy định một số vấn đề chung về thi hành án dân sự quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự; Nghị định của Chính phủ số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 quy định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nghị định của Chính phủ số 74/2009/NĐ-CP ngày 9/9/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về cơ quan quản lí thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự; Nghị định của Chính phủ số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; Thông tư của Bộ tài chính số 166/2009/TT-BTC ngày 18/8/2009'hướng dẫn xử lí một số tài sản tịch thu sung quỹ nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp và Bộ tài chính số 04/2009/TTLT-BTP-BTC ngày 15/10/2009 hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước đê thi hành án; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 07/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/03/2010 hướng dẫn thủ tục miễn thi hành án đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng; Thông tư liên tịch của Bộ tài chính và Bộ tư pháp số 184/2011/TTLT- BTC-BTP ngày 19/12/2011 hướng dẫn cơ chế quản lí tài chính về kinh phí tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Bộ tài chính, Bộ lao động-thương binh và xã hội và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 02/2014/TTLT-BTP- BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 hướng dạn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để thi hành án dân sự và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKNDTC ngày 15/9/2015 hướng dẫn việc miễn giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách Nhà nước; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp và Bộ quốc phòng số 17/2015/TTLT-BTP-BQP ngày 07/12/2015 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự; Thông tư của Bộ tư pháp số 02/2016/TT-BTP ngày 01/02/2016 quy định quy trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo, đề nghị, kiến nghị, phản ánh trong thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 06/2016/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/5/2016 hướng dẫn phối hợp trong thống kê thi hành án dân sự; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp và Bộ tài chính số 07/2016/TTLT-BTP-BTC ngày 10/6/2016 hướng dẫn bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án; Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự ... Ngoài ra, ngày 17/11/2016, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật đấu giá tài sản năm 2016, ngày 26/11/2015 Quốc hội khoá XIII ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 về thực hiện chế định thừa phát lại; ngày 08/01/2020 Chính phủ ban hành Nghị định số 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại. Luật sửa đổ, bổ sung luật thi hành án dân sự , Luật đấu giá tài sản năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành nêu trên đã quy định nhiều vấn đề mới về thi hành án dân sự như quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự, quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thi hành án; quy định về thủ tục tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án; quy định về cơ quan thi hành án dân sự có nghĩa vụ xác minh điều kiện thi hành án, xác định việc chưa có điều kiện thi hành án; quy định rút ngắn thời hạn tự thể tham gia vào các quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự, tức là điều chỉnh nó. Từ đó, các quan hệ này trở thành quan hệ pháp luật thi hành án dân sự.
Quan hệ pháp luật thi hành án dân sự là quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại, toà án, trọng tài, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh, viện kiểm sát, các đương sự, người đại diện của đương sự và những cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến việc thi hành án dân sự, phát sinh trong quả trình thi hành án dân sự và được các quy phạm pháp luật thi hành án dân sự điều chỉnh.
Các quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự rất đa dạng và phong phú nên các quan hệ pháp luật thi hành án dân sự cũng đa dạng và phong phú, bao gồm: Các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với các đương sự và người đại diện của đương sự, các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với các cá nhân, tổ chức liên quan đến việc thi hành án và các quan hệ giữa cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại với toà án, trọng tài, hội đồng xử lí vụ việc cạnh tranh và viện kiểm sát được các quy phạm pháp luật thi hành án dân sự điều chỉnh.
3. Đặc điểm của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự
Quan hệ pháp luật thi hành án dân sự là một dạng cụ thể của quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nên cũng có các đặc điểm của quan hệ pháp luật xâ hội chủ nghĩa như là quan hệ có ý chí, xuất hiện trên cơ sở các quy phạm pháp luật, nội dung được cấu thành bởi quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể tham gia quan hệ này và việc thực hiện được bào đảm thể mang tính thụ động, bắt buộc. Kết quả thi hành án dân sự trước hết phụ thuộc vào sự tự nguyện, tự giác của các đương sự và các chủ thể khác. Tuy nhiên, trên thực tế không phải trong trường hợp nào họ cũng tự nguyện, tự giác thi hành án dân sự, đặc biệt là người phải thi hành án. Để bảo đảm hiệu quả thi hành án dân sự, pháp luật thi hành án dân sự quy định một số chủ thể bắt buộc phải tham gia vào quá trình thi hành án dân sự. Vì vậy, việc tham gia của một số chủ thể của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự mang tính thụ động và bắt buộc.
Thứ ba, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại thường là một bên của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự. Trong thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự, vãn phòng thừa phát lại là chủ thể được giao nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành các bản án, quyết định. Để thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của mình cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại phải tham gia vào hầu hết các quan hệ phát sinh trong quá trình Thi hành án dân sự nên trở thành chủ thể chủ yếu của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự.
Thứ tư, trong quan hệ pháp luật thi hành án dân sự các chủ thể khác đều phải phục tùng cơ quan Thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại. Do yêu càu của công tác thi hành án dân sự và mục đích tham gia thi hành án dân sự của các chủ thể khác nhau nên pháp luật quy định địa vị pháp lí của các của các chủ thể trong thi hành án dân sự khác nhau và giữa họ không có sự bình đẳng. Cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại là chủ thể pháp luật quy định được thực hiện quyền lực của Nhà nước để tổ chức thi hành án dân sự nên trong thi hành án dân sự, các chủ thể khác đều phải phục tùng và chấp hành quyết định của cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại.
- Nhóm thứ hai bao gồm các chủ thể tham gia thi hành án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác như đương sự, người đại diện của đương sự;
- Nhóm thứ ba bao gồm các chủ thể tham gia thi hành án dân sự có tính chất hỗ trợ cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức thi hành án dân sự như người định giá tài sản, uỷ ban nhân dân các cấp, người được giao giữ tài sản kê biên để thi hành án dân sự...
- Nhóm thứ tư bao gồm chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc kiểm sát thi hành án dân sự là viện kiểm sát.
- Khách thể của quan hệ pháp luật Thi hành án dân sự
Theo lí luận Mác-Lênin về nhà nước và pháp luật thì khách thể của quan hệ pháp luật là những gì các bên chủ thể mong muốn đạt được.(1) Từ đó, khách thể của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự là mục đích, mối quan tâm chung của các chủ thể và là yếu tố thúc đẩy các bên tham gia quan hệ pháp luật thi hành án dân sự. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật thi hành án dân sự mỗi chủ thể có những mục đích, động cơ và nhiệm vụ khác nhau.
Ví dụ: Người được thi hành án mong muốn các quyền dân sự của mình được nhanh chóng khôi phục, cơ quan thi hành án dân sự mong muốn tổ chức thi hành án dân sự có hiệu quả ... Nhìn bề ngoài thì mục đích tham gia quan hệ pháp luật Thi hành án dân sự của các chủ thể hoàn toàn khác nhau. Tuy vậy, xét cho cùng các chủ thể của quan hệ pháp luật thi hành án dân sự vẫn có mong muốn chung là các đương sự thực hiện được các quyền, nghĩa vụ của họ ghi trong bản án,
Căn cứ vào yêu cầu của công tác thi hành án dân sự và tuỳ vào mục đích, tính chất tham gia thi hành án dân sự của các chủ thể mà pháp luật thi hành án dân sự quy định cho mỗi chủ thể các quyền và nghĩa vụ pháp lí nhất định. Trong đó, các quyền và nghĩa vụ của cơ quan thi hành án dân sự có tính chất đặc biệt, ngoài chủ thể này không chủ thể nào có được vì nó xuất phát từ yêu cầu của công tác quản lí xã hội của Nhà nước. Trong thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự là chủ thể duy nhất được Nhà nước trao cho quyền lực cần thiết để tổ chức thi hành án dân sự.
Việc thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp lí của các chủ thể trong quá trình thi hành án dân sự là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các chủ thể. Để bảo đảm việc thi hành án dân sự được nhanh chóng và đúng đắn thì các chủ thể phải thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ pháp lí của mình theo đúng quy định của pháp luật và có thiện chí. Trường hợp chủ thể không thực hiện đầy đủ và đúng các quyền, nghĩa vụ pháp lí của mình thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và theo quy định của pháp luật trong những trường hợp cần thiết cơ quan nhà nước có thẩm quyền được áp dụng các chế tài pháp lí đối với họ.
Tham khảo thêm bài viết pháp lý khác liên quan:
- Thi hành án dân sự là gì? Quy định pháp luật về thi hành án dân sự
- Mẫu đơn yêu cầu thi hành án dân sự mới nhất của Bộ tư pháp
- Mức phí thi hành án dân sự mới nhất là bao nhiêu?
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)