1. Vòng đàm phán Uruguay

Vòng đàm phán Uruguay là một loạt các cuộc đàm phán thương mại nối tiếp nhau từ tháng 9 năm 1986 cho đến tháng 4 năm 1994. Đây là vòng đàm phán thứ tám của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với sự tham gia của 125 nước.

Vòng đàm phán này mang tính chất lịch sử vì nó đã chuyển GATT thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Nó bắt đầu diễn ra tại Punta del Este, Uryguay (vì thế có tên là Vòng đàm phán Uruguay), tiếp theo là các cuộc đàm phán tại Montréal, Genève, Bruxelles, Washington, D.C và Tokyo, Cuối cùng, các hiệp định của nó được ký trọn gói tại Marakech, Maroc bao gồm một hiệp định về thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới và các phụ lục đi kèm là các hiệp định quy định về các vấn đề khác nhau trong thương mại quốc tế.

2. Những kết quả chưa đạt được tại vòng đàm phán Uruguay

Vòng Uruguay không có chủ ý dọn dẹp tất cả những vấn đề tồn tại mà GATT để lại. Hai bộ luật của Vòng Tokyo nói riêng đã không thể được chuyển hóa thành những nghĩa vụ chung trong khuôn khổ WTO. Hai bộ luật này điều chỉnh hoạt động mua sắm của chính phủ và thương mại máy bay dân dụng, phản ánh những khó khăn chính trị riêng và thực tế của thị trường. Bản thân các bộ luật không giải quyết những vấn đề tồn đọng trong các lĩnh vực thương mại này. Bộ luật về việc mua sắm của chính phủ chẳng hạn, thiên về việc ưu đãi cho các nhà sản xuất nội địa và các quốc gia có ký kết; còn việc mua bán máy bay dân sự thì bị hạn chế trong những rào cản có tính chất bảo hộ chủ nghĩa cho một số nhỏ các hãng sản xuất máy bay.

3. Hiệp định về mua sắm chính phủ

Hiệp định về việc mua sắm của chính phủ đã được thảo luận tại Vòng Tokyo và bắt đầu có hiệu lực vào năm 1981. Bộ luật chỉ có hai mươi lăm chữ ký và điều chỉnh các thủ tục đấu thầu cho một số vụ mua sắm của các chính phủ. Mục đích của bộ luật là khuyến khích các quốc gia mở cửa quy trình cho các nhà cung cấp của nước khác tham gia.

Những nguyên tắc không phân biệt đối xử và đối xử quốc gia đã được tích hợp vào bộ luật nhưng tác động của nó đến dòng chảy thương mại thì rất hạn chế bởi vì thỏa thuận chỉ áp dụng vào những lĩnh vực kinh tế đã được bao hàm trong danh mục các cam kết quốc gia. Lối tiếp cận bằng “danh sách tích cực” này, cũng được sử dụng trong các cam kết của GATS, có những điểm yếu rõ ràng khi không bao gồm những “mặc định”. Các nhóm lợi ích muốn bao hàm một lĩnh vực nào đó sẽ gặp khó khăn hơn. Quy trình “danh sách tiêu cực” đặt gánh nặng lên một lĩnh vực đang được tranh cãi có nên được bao hàm trong luật hay không. Vòng Uruguay đạt được một số thành công trong việc mở rộng quy mô của các cam kết và một thỏa thuận mới bắt đầu có hiệu lực vào năm 1996. Tuy nhiên, các quốc gia vẫn còn phải đi một chặng đường dài đến việc mở cửa lĩnh vực quan trọng này trong thương mại thế giới.

Những lý do tạo ra tính nhạy cảm trong lĩnh vực thương mại này thì khá rõ ràng. Việc gia tăng tính chất cởi mở trong công tác mua sắm của chính phủ chưa chắc nhận được sự ủng hộ rộng rãi. Các quốc gia tự cảm thấy mình có khả năng cạnh tranh trong việc cung cấp hàng hóa sẽ thấy có động lực để mở cửa thị trường cho người khác nhưng rất ít quốc gia muốn từ bỏ khả năng phân biệt đối xử theo hướng có lợi cho các nhà cung cấp nội địa hoặc các đối tác trong khu vực. Đây không phải là một trường hợp mà cơ chế đa phương có hy vọng thành công lớn, mặc dù có thể cải thiện hiệu quả qua việc tất cả các chính phủ đều mua sắm các loại hàng hóa và dịch vụ từ những nguồn cung cấp có giá thấp nhất. Nhưng ở những nơi mà bản thân thị trường nội địa không có tự do thì sẽ là ảo tưởng khi tin vào sự phát triển của cách tiếp cận mang tính tự do toàn cầu. Tuy nhiên đây là một lĩnh vực mà các thỏa thuận khu vực có thể có vai trò. Cuối cùng thì có thể có một sự ủng hộ đối với việc điều hòa các thỏa thuận nhiều bên như vậy trong quy trình mua sắm của các chính phủ. ở cấp độ toàn cầu, vào lúc này điều có thể mong đợi nhiều nhất là một sự nhấn mạnh nào đó vào tính minh bạch trong việc mua sắm công cộng và do đó, đó là một đề tài được Vòng Doha lựa chọn để xem xét có nên đưa vào đàm phán hay không.

4. Hiệp định về mua bán máy bay dân sự

Hiệp định về mua bán máy bay dân sự được đàm phán ở Vòng Tokyo và có hiệu lực vào năm 1980. Hiện nay thỏa thuận này có hai mươi bốn chữ ký. Hiệp định xóa bỏ thuế quan đối với máy bay phi quân sự và phụ tùng. Nó bao gồm những quy định về việc các chính phủ mua sắm máy bay và hỗ trợ tài chính cho việc sản xuất máy bay dân sự. Tuy nhiên, con số thực các quốc gia sản xuất máy bay dân sự thì rất ít và tranh chấp thương mại, cả vụ tranh chấp giữa EU và Mỹ chung quanh vấn đề trợ cấp cho hãng Boeing và Airbus cũng như tranh chấp giữa Canada và Brazil về các loại máy bay hành khách cỡ nhỏ, thì kéo dài và có khả năng gây ra nhiều bất đồng. Cơ cấu của ngành công nghiệp này và số lượng nhỏ các quốc gia liên quan kết hợp lại làm cho vấn đề này trở thành thứ yếu và có mức ưu tiên thấp trong việc điều hành toàn cầu.

5. Kết luận

Công cuộc mở rộng các quy tắc của GATT trong Vòng Uruguay để bao hàm cả những lĩnh vực chậm lụt như dệt may và nông nghiệp đã thành công rất đáng kể. Không có nguyên nhân nội tại nào lý giải việc dệt may và nông nghiệp - với tư cách những ngành kinh tế - phải được đối xử khác với lĩnh vực hàng công nghiệp về phương diện quy tắc thương mại. Các nguyên nhân liên quan nhiều hơn tới ý nghĩa đối nội của lợi ích của nhà sản xuất và sự phân bổ năng lực xuất khẩu trên toàn thế giới, cả hai lĩnh vực đều chứng tỏ rất khó tích hợp với tiến trình của GATT qua hàng loạt vòng đàm phán và các cuộc thương thảo về thuế quan. Vòng Uruguay đã hoàn thành nhiệm vụ bị bỏ dở bằng cách đưa các lĩnh vực này xuống dưới những đề mục của hệ thống quy tắc đối với sự bảo hộ ở biên giới. Trong trường hợp sản phẩm nông nghiệp, Hiệp định Nông nghiệp của Vòng Uruguay (URAA) còn đi xa hơn để bao hàm những giới hạn về trợ cấp nội địa ở một số khía cạnh còn hạn chế hơn so với các lĩnh vực khác, về một phương diện khác, Hiệp định về Hàng Dệt May (ATC) được cố ý thiết kế để tự kết thúc khi lĩnh vực này đã hòa nhập hoàn toàn vào các quy tắc của WTO. Nhưng trong cả hai trường hợp, công cuộc tự do hóa thương mại chỉ mới được bắt đầu. Do đó, hệ thống thương mại đang phải đối mặt VỚI vấn đề có thể tìm được một sự quân bình thích hợp hay không để cho phép các quốc gia xuất khẩu lẫn nhập khẩu đều chấp nhận một sự chuyển dịch quan trọng trong công cuộc bảo hộ và chấp nhận viễn ảnh về một sự chuyển dịch có ý nghĩa khác trong mô thức sản xuất của các lĩnh vực kinh tế này.

Ở các nước đang phát triển chính sách về dệt may vẫn là điều nhạy cảm và trong tương lai gần, chính trị chưa sẵn sàng ủng hộ một sự tự do hóa lớn lao. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các dấu hiệu về triển vọng tiến bộ hơn nữa tỏ ra rất lộn xộn khi Hoa Kỳ đồng ý gia tăng đáng kể việc thanh toán cho nông dân mà các quốc gia khác sợ rằng sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng giá cả nông sản vốn đã rất yếu của thế giới. Tuy vậy công cuộc cải cách đã không hoàn toàn dừng lại và các thị trường nông sản có thể được tự do hóa đáng kể trong vòng đàm phán hiện nay. Điều này còn tùy thuộc vào sự tham gia của các nhóm khác hơn là nhóm lợi ích về nông nghiệp truyền thống nhằm thúc đẩy những chính sách hướng tới những lợi ích phù hợp hơn trong một hệ thống thương mại mở. Mặt khác, sự chuyển dịch chính sách thương mại về hướng kích thích sự phát triển nông thôn và khuyến khích hoạt động sản xuất nông nghiệp thân thiện với môi trường hứa hẹn sẽ gây thêm căng thẳng thương mại khi sự phân biệt giữa các mục tiêu thương mại và mục tiêu đối nội trở nên mờ nhạt.

Tầm quan trọng của nông nghiệp đối với các nước đang phát triển có thể đủ làm nghiêng lệch cán cân về hướng tự do hóa. Các quốc gia này đã tỏ ra bực bội trước những kết quả rất nhỏ nhoi mà họ gặt hái được trong việc tiếp cận thị trường đã được hiện thực hóa trong sản phẩm nông nghiệp kể từ Vòng Uruguay. Và như vậy nông nghiệp đã được bao hàm như là một trong những “vấn đề triển khai”, được chương trình nghị sự của Vòng Doha xác định là cần phải quan tâm khi tiến hành các cuộc thảo luận về các chủ đề thương mại mới. Hơn thế nữa các quốc gia đang phát triển đều biết về thành công tương đối khiêm tốn trong việc hạ thấp sự hỗ trợ nội địa ở các nước phát triển trong khối OECD và đối lập điều đó với những thay đổi trong chính sách của chính họ được coi như điều kiện đưa tới kết quả của một vòng đàm phán mới.

Thành công của Vòng Uruguay trong việc củng cố các quy tắc chữa trị thương mại là hiển nhiên thông qua sự kiện rằng sửa chữa không phải là trung tâm trong chương trình nghị sự của Vòng Doha. Một vấn đề có ý nghĩa là hoạt động của thỏa thuận chống bán phá giá, mà một số quốc gia bao gồm cả Nhật Bản và Hàn Quốc, phải triển khai theo một phương cách trái với lợi ích của chính họ. Như đã trình bày ở trên, đây là sự tiếp tục cuộc tranh luận trường thiên về quy mô và độ sâu của thỏa thuận này. Điều có thể thay đổi chính là sự tăng trưởng các quy định như vậy trong các nước đang phát triển. Cuối cùng thì Hoa Kỳ và EU có thể tìm thấy lợi ích của mình trong việc kiềm chế những hành động chống bán phá giá bởi vì họ thường xuyên trở thành mục tiêu cho các phản ứng thương mại. Vòng Doha hứa hẹn sẽ làm rõ và diễn dịch một số khía cạnh của thỏa thuận chống bán phá giá. Và như thế “cuộc mặc cả lớn” cần có để kết thúc vòng Doha có thể sẽ bao hàm ít nhất là một sự tái cân bằng khiêm tốn những nghĩa vụ và nhượng bộ mà Vòng Uruguay đã đạt được hơn một thập kỷ trước.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm & Biên tập)