Đối tác chiến lược có đặc điểm nổi bật là không chỉ có sự hiểu biết lẫn nhau sâu sắc, mà hai bên còn có lòng tin chính trị ở mức cao. Giữa hai nhà nước, giữa lãnh đạo cấp cao thường xuyên có trao đổi, thăm hỏi lẫn nhau. Giữa hai nước hình thành nên các cơ chế hợp tác toàn diện, trong đó ưu tiên cho một số lĩnh vực họp tác chiến lược. Sự hợp tác cùng có lợi đạt tới mức cao để tạo ra đối tác, tạo ra sự ràng buộc, chi phối lẫn nhau một cách sâu sắc, nhất là trên một số lĩnh vực chủ chốt.

Còn đối tác toàn diện ở cấp độ thấp hơn, chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh hợp tác toàn diện, cùng có lợi. Như vậy, đối tác chiến lược có ý nghĩa quan trọng cả về chính trị và các cơ chế hợp tác cùng có lợi, trong khi đối tác toàn diện chủ yếu tập trung vào khía cạnh hợp tác cụ thể.

Tính tới tháng 4/2019, Việt Nam có 16 đối tác chiến lược (bao gồm 3 đối tác chiến lược toàn diện) và 14 đối tác toàn diện. Theo đó:

Đối tác chiến lược toàn diện gồm: Nga, Trung Quốc, Ấn Độ.

Đối tác chiến lược gồm: Nhật Bản, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Anh, Đức, Italia, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Pháp, Malaysia, Philippines, Australia.

Đối tác toàn diện gồm: Nam Phi, Chile, Brazil, Venezuala, New Zealand, Argentina, Ukraina, Hoa Kỳ, Đan Mạch, Myanmar, Canada, Hungary, Brunei và Hà Lan.

Sau đây xin được đề cập đến quan hệ kinh tế song phương giữa: Việt Nam - Hoa Kỳ (thuộc quan hệ đối tác toàn diện), Việt Nam - Trung Quốc (thuộc quan hệ đối tác chiến lược toàn diện), Việt Nam - Hàn Quốc (thuộc quan hệ đối tác chiến lược).

 

1. Quan hệ kinh tế song phương Việt Nam - Hoa Kỳ

Ngày 03/02/1994, Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Bill Clinton đã tuyên bố dỡ bỏ cấm vận thương mại đối với Việt Nam, mở ra một trang mới trong thời kì bình thường hóa quan hệ và phát triển kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995, quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Từ chỗ là cựu thù sau chiến tranh, hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác toàn diện năm 2013, tăng cường và mở rộng họp tác trên các lĩnh vực trong đó có kinh tế.

Tính tới thời điểm hiện tại, hai nước đã kí kết một số hiệp định, thoả thuận về kinh tế như: Hiệp định về Thiết lập quan hệ quyền tác giả (ngày 27/6/1997), Hiệp định về Hoạt động của Tổ chức Đầu tư tư nhân hải ngoại (OPIC) tại Việt Nam (ngày 15/12/2001), Hiệp định Bảo lãnh khung và Hiệp định Khuyến khích dự án đầu tư giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ - EXIMBANK (ngày 09/12/1999), Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (kí ngày 13/7/2000, có hiệu lực ngày 10/12/2001), Hiệp định Hợp tác về khoa học và công nghệ (có hiệu lực từ ngày 26/3/2001), Hiệp định Dệt may (có hiệu lực từ ngày 01/5/2003), Hiệp định Vận tải hàng không (có hiệu lực từ 14/01/2004 - sửa đổi các năm 2010, 2012); Thư thoả thuận hợp tác về phòng chống ma tuý (có hiệu lực từ ngày 26/02/2004); Hiệp định khung hợp tác về Kinh tế và kĩ thuật (2005), Bản Ghi nhớ hợp tác về Nông nghiệp (6/2005); Hiệp định khung về Thương mại và đầu tư (6/2007); Hiệp định Hàng hải (3/2007); Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thu nhập (7/2015)...

Thương mại - đầu tư là lĩnh vực ưu tiên và động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế hai nước. Từ mức 500 triệu USD khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995, giao thương đã tăng trên 100 lần, đạt 60,287 tỉ USD vào tháng 12/2018. Hoa Kỳ hiện là một trong 11 nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam.

Chỉ tính riêng năm 2017, giá trị hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ chiếm hơn 20% tỉ trọng xuất khẩu của Việt Nam ra nước ngoài. Việt Nam cũng là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á với mức độ tăng trưởng nhanh.

Năm 2018, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ là 48 tỉ USD, tăng 14% so với năm 2017. Năm 2019, Hoa Kỳ vẫn giữ vị trí số 1 về thị trường xuất khẩu của Việt Nam, với kim ngạch 61,35 tỉ USD, tăng 29,1% so với năm 2018. Những điểm sáng trong bức tranh xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong năm là dệt may, giày dép, linh kiện điện tử, đồ gỗ, nông sản, thủy sản. Tính riêng thị trường Hoa Kỳ, đã có 10 nhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam đạt kim ngạch trên 1 tỉ USD, trong đó có 6 nhóm hàng đạt từ 1 - 3 tỉ USD, 3 nhóm hàng thuộc “câu lạc bộ” 3 - 5 tỉ USD và đặc biệt, nhóm hàng dệt may đạt tới trên 12 tỉ USD. Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ Hoa Kỳ năm 2018 đạt 13 tỉ USD, năm 2019 đạt 14,37 tỉ USD. Trong đó, các nhóm hàng nhập khẩu chính là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất như máy móc, thiết bị, bông, đậu tương, thức ăn gia súc.

Để đạt được các thành tựu về quan hệ kinh tế song phương hai nước kể trên, các chuyên gia kinh tế đánh giá Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) có vai trò chủ đạo nhất. Bởi BTA có những nét đặc biệt sau: Trước đó, mặc dù Việt Nam đã đàm phán kí kết hiệp định thương mại với hơn 100 quốc gia/vùng lãnh thổ trên thế giới, tuy nhiên đó là những hiệp định được đàm phán với đối tác nước ngoài trên quan niệm truyền thống về thương mại, chủ yếu liên quan tới thương mại hàng hóa, và thường là hiệp định khụng, không có cam kết và lộ trình cụ thể. Đàm phán BTA với Hoa Kỳ, lần đầu tiên, Việt Nam đối mặt với một hiệp định thương mại toàn diện, không chỉ về hàng hóa mà cả về dịch vụ, cũng như liên quan đến các khía cạnh sở hữu trí tuệ, đầu tư..., toàn bộ nội dung chủ yếu các hiệp định trong khuôn khổ của WT0. Theo các chuyên gia đàm phán FTA đa phương và song phương, đây có thể coi là một Hiệp định “WTO trừ”, bởi sau này trong đàm phán gia nhập WT0, các đối tác thành viên đều lấy BTA Việt Nam - Hoa Kỳ làm “sàn tối thiểu” cần đạt và đưa ra những đòi hỏi cao hơn. Hơn nữa, khi đàm phán song phương với Việt Nam, trong khuôn khổ WTO, phía Hoa Kỳ cũng đã đưa ra những yêu cầu cao hơn BTA, cả về thương mại hàng hóa (gần chục ngàn dòng thuế, so với vài trăm dòng), cũng như về thương mại dịch vụ (11 ngành với hơn 100 phân ngành, so với chỉ 8 ngành với 65 phân ngành). Đây cũng có thể coi là “khúc dạo đầu”, là “cuộc tổng tập dượt” cho đàm phán của Việt Nam gia nhập WTO sau này. Ngoài ra, từ trước đến nay, không kể đàm phán gia nhập WTO kéo dài gần 12 năm, đàm phán các

FTA khác thường chỉ khoảng 2 năm, song đây là lần đầu tiên đàm phán một BTA kéo dài trong 6 năm (1995 - 2000), với 11 vòng chính thức và nhiều cuộc thảo luận, tham vấn “không chính thức” khác.

 

2. Quan hệ kinh tế song phương Việt Nam - Trung Quốc

Từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, về tổng thể, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc khôi phục nhanh, phát triển mạnh. Năm 1999, trong cuộc gặp gỡ cấp cao, hai nước đã đạt sự nhất trí cao về phương châm 16 chữ vàng: “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tưomg lai” và xây dựng quan hệ 4 tốt: “đồng chí tốt, bạn bè tốt, láng giềng tốt, đối tác tốt”. Năm 2008, hai nước thiết lập quan hệ “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”.

Tính tới tháng 12/2019, hai nước đã kí kết hàng chục hiệp định và thoả thuận. Trong đó phải kể đến một số hiệp định, thoả thuận về kinh tế như: Hiệp định Thương mại (11/1991); Hiệp định về Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (12/1992); từ ngày 01/01/2004, Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu cắt giảm thuế quan theo “Chương trình thu hoạch sớm” (EHP) trong khuôn khổ Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (AC - FTA), Thoả thuận thăm dò dầu khí (từ năm 2006 và nay đã qua 4 lần gia hạn), Hiệp định về Tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa và người qua lại biên giới (Hiệp định GMS - giữa chính phủ các nước Campuchia, Trung Hoa, Myanmar, Lào, Thái Lan và Việt Nam - 03/2007); Hiệp định hợp tác du lịch, Thoả thuận hợp tác du lịch (giai đoạn 2010 - 2013); Hiệp định hợp tác, khai thác và bảo vệ tài nguyên du lịch thác Bản Giốc (11/2015)... Ngoài ra, Chương trình “hai hành lang - một vành đai kinh tế” tạo cơ hội phát triển cho các tỉnh biên giới Việt - Trung và ven Vịnh Bắc Bộ trên tất cả các lĩnh vực.

Trung Quốc hiện là một trong 10 đối tác hàng đầu tại Việt Nam về đầu tư, là thị trường khách du lịch và đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Đặc biệt Trung Quốc là nước đầu tiên trong số các nước thành viên của WT0 (tháng 10/2004) công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường trong quan hệ thương mại quốc tế (so với thời hạn Việt Nam cam kết: từ năm 2019). Điều này đã góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế song phương hai nước trong thời gian vừa qua.

Thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc trong năm 2018 đạt gần 107 tỉ USD. Tuy nhiên, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc tiếp tục tăng. Theo đó, năm 2018, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 41,268 tỉ USD, tăng 5,864 tỉ USD so với năm trước. Thị trường Trung Quốc hiện chiếm đến hơn 22% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước trong năm 2018. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường này là 65,438 tỉ USD, tăng 6,846 tỉ USD. Tính chung, tổng kim ngạch thương mại của 2 nước tăng 12,71 tỉ USD so với năm 2017, nhưng Việt Nam nhập siêu trên 24 tỉ USD. Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc gồm: máy móc thiết bị, nhóm hàng dẫn đầu kim ngạch nhập từ Trung Quốc với hơn 12 tỉ USD, tăng hơn 10% so với năm 2017; điện thoại và linh kiện đứng thứ hai với kim ngạch 8,58 tỉ USD; vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 7,83 tỉ USD; ngoài ra còn có nông sản, giầy dép, gỗ và các sản phẩm từ gỗ.... Năm 2019, trao đổi thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc với mức kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 116,86 tỉ USD; Trung Quốc là quốc gia có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam và cũng là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam, với 75,45 tỉ USD (chiếm 29,8%). Việt Nam nhập siêu 34,04 tỉ USD so với Trung Quốc. Nhóm các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng điện thoại các loại và linh kiện; điện tử, máy tính và linh kiện. Nhập siêu từ Trung Quốc liên tục tăng trong nhiều năm nay có nguyên nhân do nền sản xuất trong nước của Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu từ thị trường này, trong đó có những ngành phải nhập đến 90% nguyên liệu từ Trang Quốc.

về đầu tư, kết thúc năm 2019, Trung Quốc xếp thứ 5 trong tổng số 125 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với 683 dự án mới so với năm 2018, tổng vốn đầu tư 2,3 tỉ USD. Đầu tư từ Trung Quốc có xu hướng tăng so với cùng kì năm 2018 do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Cụ thể, vốn FDI từ Trung Quốc tăng gần 1,65 lần so với năm 2018.

 

3. Quan hệ kinh tế song phương Việt Nam - Hàn Quốc

Qua 27 năm kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1992, quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc đã có nhiều bước phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực trong đó có kinh tế. Tháng 8/2001, hai nước ra tuyên bố chung về quan hệ đối tác toàn diện. Tháng 10/2009, quan hệ hai nước được nâng cấp lên thành quan hệ đối tác chiến lược.

Tính tới tháng 12/2019, hai nước đã kí kết hàng chục hiệp định và thoả thuận kinh tế song phương, trong đó có một số hiệp định quan trọng như: Hiệp định Hợp tác kinh tế khoa học kĩ thuật (02/1993); Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư (9/2003); Hiệp định Hàng không; Hiệp định Thương mại (5/1993); Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập (5/1994); Hiệp định Vận tải biển (4/1995); Hiệp định về Họp tác và hồ trợ lẫn nhau trong lĩnh vực Hải quan (3/1995); Hiệp định về Hợp tác du lịch (8/2002); Hiệp định về Viện trợ không hoàn lại và hợp tác kĩ thuật (4/2005); Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (5/2015)...

Bên cạnh hợp tác song phương, Việt Nam và Hàn Quốc còn là những đối tác quan trọng có đóng góp tích cực trong các diễn đàn, khuôn khổ hợp tác đa phương của tổ chức quốc tế như: Liên hợp quốc, WTO, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), ASEM... và các cơ chế hợp tác trong khu vực như: ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN + 3, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS).

Từ năm 2011 - 2019, Hàn Quốc luôn giữ vững ngôi vị là nhà đàu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam. Hàn Quốc hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam và Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ tư của Hàn Quốc.

Trong 10 tháng đầu năm 2018, kim ngạch thương mại hai nước đạt 54,2 tỉ USD. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc có hiệu lực từ ngày 20/12/2015 đã tạo động lực mới góp phần thực hiện mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên mức 100 tỉ USD vào năm 2020 theo thỏa thuận của Lãnh đạo cấp cao hai nước kí vào tháng 3/2018.

Tính lũy kế đến tháng 10/2018, trong tổng số 128 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư còn hiệu lực tại Việt Nam, Hàn Quốc đứng thứ nhất, có 7.323 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng kí 62,1 tỉ USD (chiếm 18,3% tổng vốn đầu tư). Trong 10 tháng đầu năm 2018, Hàn Quốc đứng thứ 2/104 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam vói vốn đăng kí 6,5 tỉ USD, chiếm 23,4% tổng vốn đầu tư. Trong đó có dự án nhà máy sản xuất polypropylene và kho ngầm chứa khí dầu mỏ hóa lỏng tại Việt Nam với vốn đầu tư 1,2 tỉ USD do tập đoàn

Hyosung đầu tư tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Hàn Quốc đã đầu tư vào 19 lĩnh vực, chủ yếu là công nghiệp gia công, chế tạo, bất động sản, xây dựng... tập trung nhiều vào một số địa phương như: Bắc Ninh, Hà Nội, Đồng Nai, Hải Phòng và Thái Nguyên.

Năm 2019, Hàn Quốc đứng vị trí thứ nhất trong tổng số 125 quốc gia và vũng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, với tổng vốn đầu tư 7,92 tỉ USD (chiếm 20,8% tổng vốn FDI vào Việt Nam).

Hàn Quốc là đối tác cung cấp ODA lớn thứ hai của Việt Nam (sau Nhật Bản) và Việt Nam là nước nhận viện trợ ODA lớn nhất của Hàn Quốc. Hàn Quốc đã hỗ trợ 1,2 tỉ USD vốn vay ưu đãi từ Quỹ Hợp tác phát triển kinh tế (EDCF) cho giai đoạn 2012 - 2015 và 1,5 tỉ USD cho giai đoạn 2016 - 2020, tập trung vào ba lĩnh vực: tăng trưởng xanh, xây dựng hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực. Nhìn chung, các dự án ODA của Hàn Quốc đều nằm trong lĩnh vực ưu tiên cao của Việt Nam, triển khai đúng tiến độ, có mức giải ngân tăng đều qua các năm.

Hàn Quốc là thị trường nhập khẩu lao động lớn thứ hai của Việt Nam (sau Đài Loan, Trung Quốc) và Việt Nam là nước xuất khẩu lao động lớn thứ hai (sau Trung Quốc). Hàn Quốc đã bỏ chế độ tuyển tu nghiệp sinh Việt Nam, áp dụng chương trình Cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài (EPS) từ năm 2004 thông qua việc kí Bản ghi nhớ về hợp tác lao động (gia hạn hằng năm). Hai bên đang triển khai thí điểm đưa lao động tại một số địa phương Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc thời vụ trong lĩnh vực nông nghiệp.

Những năm gần đây, Hàn Quốc nổi lên là một trong những thị trường cung cấp khách du lịch trọng điểm của Việt Nam (lớn thứ hai sau Trung Quốc). Trong 10 tháng đầu năm 2018, khách du lịch Hàn Quốc đến Việt Nam đạt 2,8 triệu lượt người, tăng 48,3%; khách du lịch Việt Nam đến Hàn Quốc đạt hơn 440 nghìn lượt người, tăng 37,3% so với cùng kì năm trước. Hiện trung bình mỗi tháng có hơn 1.000 chuyến bay thẳng giữa hai nước. Năm 2019, khách Hàn Quốc tới Việt Nam đạt gần 4,3 triệu lượt, đứng vị trí thứ hai sau Trung Quốc, khách du lịch từ Việt Nam đi Hàn Quốc cũng luôn giữ mức tăng trưởng ổn định. Tính đến tháng 11/2019, con số này đã đạt 521.000 lượt, tăng 21,9% so với cùng kì năm 2018.

Để đạt được thành tựu gần đây trong quan hệ kinh tế hai nước, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) có vai trò rất quan trọng. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ được hưởng nhiều cơ hội thị trường mới nhờ các cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ của phía Hàn Quốc. Môi trường pháp lý minh bạch, thông thoáng sẽ góp phần khuyến khích đầu tư từ Hàn Quốc vào Việt Nam, kèm theo công nghệ cao, trình độ quản lý tiên tiến và cơ hội tiếp cận các thị trường thứ ba.

Luật Minh Khuê (tổng hợp)