Chủ thể của tội phạm là khái niệm dùng để chỉ người có năng lực trách nhiệm hình sự (TNHS) đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự. Trong khi đó, nhân thân người phạm tội trong luật hình sự được hiểu là tổng họp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của họ. Những đặc điểm đó có thể là về nghề nghiệp, lí lịch tư pháp, ý thức pháp luật, thái độ làm việc, thái độ trong quan hệ với những người khác, hoàn cảnh gia đình,...

Nhân thân người phạm tội tuy không phải là yếu tố cấu thành tội phạm nhưng những đặc điểm về nhận thân của người phạm tội có thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Các cơ quan điều ữa, truy tố và xét xử khi giải quyết các vụ án hình sự đều cần nghiên cứu đầy đủ vấn đề nhân thân người phạm tội . Việc nghiên cứu này có những ý nghĩa sau:

Ở một số tội phạm, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội có ý nghĩa đối với việc định tội cũng như đối với việc định khung hình phạt. Đó là những tội phạm mà cấu thành tội phạm cơ bản hoặc cấu thành tội phạm tăng nặng hay giảm nhẹ của những tội này có dấu hiệu phản ánh đặc điểm nào đó thuộc về nhân thân người phạm tội.

Ví dụ: cấu thành tội phạm cơ bản của tội tham ô tài sản (Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) đòi hỏi chủ thể phải là người có chức vụ, quyền hạn; cấu thành tội phạm tăng nặng của tội cưỡng đoạt tài sản (điểm e khoản 2 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) đòi hỏi chủ thể có đặc điểm là tái phạm nguy hiểm...

Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quyết định hình phạt. Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xác định nhân thân người phạm tội là một căn cứ mà toà án phải cân nhắc khi quyết định hình phạt. Tuy nhiên, không phải tất cả các tình tiết về nhân thân đều được cân nhắc mà chỉ những tình tiết về nhân thân phản ánh khả năng giáo dục đối với người phạm tội, phản ánh mức độ lỗi của họ (và qua đó phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội) cũng như phản ánh họ có thuộc diện được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các chính sách của Nhà nước hay không. Cụ thể vấn đề này, các điều 51 và 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đã quy định nhiều tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) thuộc về nhân thân người phạm tội.

Luật Minh KHuê (sưu tầm & biên tập)