1. Phòng vệ thương mại

Theo Ban chỉ đạo liên ngành hội nhập quốc tế về kinh tế (2017), Cẩm nang tích hợp các FTA theo lĩnh vực - Hướng dẫn thực thi cam kết về phòng vệ thương mại và giải quyết tranh chấp. NXB Hồng Đức, Hà Nội, Phòng vệ thương mại là một phần trong chính sách thương mại quốc tế của mỗi quốc gia, bao gồm: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.

Theo từ điển bách khoa toàn thư, phòng vệ thương mại (Anh: safeguard) là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ.

Mỗi nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đều có quyền áp dụng phòng vệ thương mại, nhưng khi áp dụng thì họ phải bảo đảm tuân theo các quy định của WTO (về điều kiện, thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ).

=> Như vậy, phòng vệ thương mại là những biện pháp ngăn chặn, hạn chế áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu từ nước này sang nước kia và được nước nhập khẩu áp dụng.

Phòng vệ thương mại được quy định trong nhiều Hiệp định về thương mại như Hiệp định TPP, Hiệp định GATT 1994, các Hiệp định chống bán phá giá, Hiệp định về các biện pháp tự vệ, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO…

Phòng vệ thương mại là một phần trong chính sách thương mại của quốc gia. Phòng vệ thương mại có mục đích nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

2. Các biện pháp phòng vệ thương mại

Bao gồm: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ.

a. Biện pháp chống bán phá giá

Căn cứ theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO thì hành vi bán phá giá được xác định nếu có các hành vi cụ thể như sau:

Trong trường hợp người bán mặt hàng, sản phẩm đó bán với giá thấp hơn giá so với thị trường của chính sản phẩm, mặt hàng đó trong điều kiện bán hàng thông thường. Việc đưa ra điều kiện bán hàng thông thường có ý nghĩa đặc biệt trong việc xác định hành vi bán phá giá, bởi lẽ người ta đã loại trừ trường hợp tại thời điểm bán hàng, hoàn cảnh cũng như nguồi cung cấp hàng đang khan hiếm, nguồn nguyên vật liệu cũng khan hiếm nên đương nhiên mặt hàng đó sẽ phải bán với giá cao hơn hoặc thấp hơn. Nên trong trường hợp này chúng ta chỉ xác định hành vi bán phá giá với trường hợp điều kiện bán hàng là thông thường.

Hành vi bán phá giá sẽ gây ra những sự cạnh tranh không lành mạnh trong chính một thị trường giống nhau về hàng hóa, sản phẩm. Dẫn đến những mâu thuẫn trong mối quan hệ về thương mại giữa các đối thủ cạnh tranh trong cùng một quốc gia và trên cả thế giới.

Đây là biện pháp để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh. Khi hàng hoá bị xem là bán phá giá thì chúng có thể bị áp đặt các biện pháp chống bán phá giá như thuế chống phá giá, đặt cọc hoặc thế chấp, can thiệp hạn chế định lượng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước nhập khẩu, trong đó thuế chống bán pháp giá và biện pháp phổ biến nhất hiện nay.

b. Biện pháp chống trợ cấp

Đây là biện pháp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu.

=> Như vậy, về bản chất, biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp dụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu. Trong khi biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu.

3. Vai trò biện pháp phòng vệ thương mại

Các biện pháp phòng vệ thương mại này được sử dụng nhằm bảo vệ hợp pháp thị trường và các ngành sản xuất trong nước (như nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là các ngành công nghiệp non trẻ, hay các lĩnh vực nhạy cảm trong xã hội...) trước các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

Ngoài ra, các biện pháp phòng vệ thương mại còn được sử dụng như hàng rào hạn chế gia nhập thị trường của các đối tác nước ngoài. Tự do hoá thương mại quốc tế đồng nghĩa với cắt giảm và loại bỏ thuế quan (theo lộ trình cam kết và dần tới loại bỏ hoàn toàn), dẫn đến các ngành sản xuất trong nước vốn vẫn được bảo vệ bởi chính sách thuế cao trước đó bị lâm vào tình thế khó khăn và có khả năng sụp đổ khi phải cạnh tranh với các đói thủ nước ngoài có tiềm lực mạnh mẽ hơn về mọi mặt. Thêm vào đó, khi hàng hoá nước ngoài nhập khẩu vào một thị trường nhiều và dễ dàng hơn, kẻo theo nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh với các mục tiêu kinh tế khác nhau, gây thiệt hại cho các ngành sản xuất trong nước của nước nhập khẩu.

Các quốc gia có thể tuỳ vào từng trường hợp, áp dụng biện pháp phòng vệ cụ thể như chống bán phá giá, chống trợ cấp, hoặc tự vệ đối với hàng hoá nhập khẩu, nếu chứng minh được những thiệt hại thông qua điều tra áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại hay chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại. Trong những trường hợp nghiêm trọng mà sự chậm trễ có thể gây ra thiệt hại khó có thể khắc phục được, dựa trên xác định sơ bộ rằng có chứng cứ rõ ràng chứng tỏ gia tăng nhập khẩu đã gây ra hoặc đe doạ gây ra tổn hại nghiêm trọng, quốc gia nhập khẩu có thể áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại dưới hình thức tăng thuế.

Tuy nhiên, để bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, các biện pháp phòng vệ thương mại còn được sử dụng như công cụ trá hình nhằm hạn chế hàng hoá nhập khẩu, mặc dù WTO đã có những qui định, những nguyên tắc về thủ tục nhằm đưa việc áp dụng những biện pháp phòng vệ thương mại này vào khung khổ pháp lý cụ thể thông qua ba Hiệp định về Chống bán phá giá; Hiệp định về Trợ cấp và Thuế đối kháng; và Hiệp định về Tự vệ, nhằm hạn chế tối đa tình trạng lạm dụng các biện pháp này.

4. Điều kiện để áp dụng biện pháp phòng vệ

Theo từ điển bách khoa, một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời của các điều kiện sau:

- Hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng;

- Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hoá đó bị thiệt hại hoặc đe doạ bị thiệt hại nghiêm trọng; và

- Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nói trên.

Một điều kiện chung là tình trạng nói trên phải là hệ quả của việc thực hiện các cam kết trong WTO của các thành viên mà họ không thể thấy hoặc lường trước được khi đưa ra cam kết.

Song song với các điều kiện chung này, một số nước khi gia nhập WTO phải đưa ra những cam kết riêng liên quan đến biện pháp tự vệ. Trường hợp của Việt Nam, không có ràng buộc hay bảo lưu nào lớn về các biện pháp tự vệ này, do đó việc áp dụng biện pháp tự vệ ở Việt Nam đối với hàng hóa nước ngoài, nếu có, sẽ tuân thủ đầy đủ các quy định của Hiệp định SG.

5. Thủ tục áp dụng biện pháp phòng vệ như thế nào?

Khác với trường hợp các vụ kiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp, WTO không có nhiều quy định chi tiết về trình tự, thủ tục kiện áp dụng biện pháp tự vệ.

Tuy nhiên, Hiệp định về Biện pháp tự vệ của WTO có đưa ra một số các nguyên tắc cơ bản mà tất cả các thành viên phải tuân thủ, ví dụ:

- Đảm bảo tính minh bạch (Quyết định khởi xướng vụ điều tra tự vệ phải được thông báo công khai; Báo cáo kết luận điều tra phải được công khai vào cuối cuộc điều tra…)

- Đảm bảo quyền tố tụng của các bên (các bên liên quan phải được đảm bảo cơ hội trình bày các chứng cứ, lập luận của mình và trả lời các chứng cứ, lập luận của đối phương);

- Đảm bảo bí mật thông tin (đối với thông tin có bản chất là mật hoặc được các bên trình với tính chất là thông tin mật không thể được công khai nếu không có sự đồng ý của bên đã trình thông tin);

- Các điều kiện về biện pháp tạm thời (phải là biện pháp tăng thuế, và nếu kết luận cuối cùng của vụ việc là phủ định thì khoản chênh lệch do tăng thuế phải được hoàn trả lại cho bên đã nộp; không được kéo dài quá 200 ngày…)

Trên thực tế, một vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ thường đi theo trình tự sau đây:

- Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ của ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu;

- Khởi xướng điều tra;

- Điều tra và công bố kết quả điều tra về các yếu tố tình hình nhập khẩu; tình hình thiệt hại; mối quan hệ giữa việc nhập khẩu và thiệt hại;

- Ra Quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự vệ

Tuy nhiên cần chú ý rằng việc điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ, mặc dù có nhiều yếu tố giống một trình tự tố tụng tư pháp (một vụ kiện tại tòa án) nhưng đây bản chất là một thủ tục hành chính, do một cơ quan hành chính nước nhập khẩu tiến hành, để xử lý một tranh chấp thương mại giữa các nhà xuất khẩu nước ngoài (về nguyên tắc là từ tất cả các nước đang xuất khẩu hàng hóa liên quan vào nước nhập khẩu) và ngành sản xuất nội địa liên quan của nước nhập khẩu. Việc này được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật nội địa nước nhập khẩu và về nguyên tắc không phải là công việc giữa các Chính phủ (Chính phủ các nước xuất khẩu và Chính phủ nước nhập khẩu).

Tuy nhiên, do vấn đề này đã được ràng buộc bởi các nguyên tắc bắt buộc có liên quan trong Hiệp định SG của WTO nên các thành viên có thể thông qua WTO để xử lý những trường hợp nước nhập khẩu tiến hành điều tra mà vi phạm WTO.

Trân trọng!