1. Mục đích của công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn

- Đảm bảo Điều lệ, kỷ cương của tổ chức Đoàn được thực hiện nghiêm minh; nghị quyết, chủ trương công tác của Đoàn được triển khai thống nhất và hiệu quả.

- Góp phần bồi dưỡng, rèn luyện cán bộ, đoàn viên không ngừng tiến bộ, chấp hành nghiêm Điều lệ Đoàn, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

- Phát hiện những mô hình mới, điển hình tiên tiến, những việc làm tốt để nhân rộng. Đồng thời, chấn chỉnh, uốn nắn những lệch lạc, những biểu hiện tiêu cực, ngăn ngừa và hạn chế sai phạm nảy sinh.

- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để giúp các cấp bộ Đoàn đề ra được các chủ trương công tác mới hoặc hoàn chỉnh các chủ trương công tác đã ban hành cho phù họp.

2. Yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn

2.1. Nắm vững tính mục đích, tính chủ động, xuất phát từ nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đoàn

Xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh là nhiệm vụ chính trị của các cấp bộ Đoàn. Do vậy, công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn phải lấy đó làm mục tiêu, phương hướng, nội dung hoạt động. Nếu không xác định đúng công tác kiểm tra, giám sát sẽ mất phương hướng và trở thành công tác nghiệp vụ đơn thuần.

Các cấp bộ Đoàn, ủy ban kiểm tra các cấp của Đoàn và cán bộ kiểm tra phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu, nắm vững chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức của Đoàn; nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm vững chỉ thị, nghị quyết của Đoàn các cấp, từ đó xây dựng kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát trong từng thời kỳ cho phù hợp.

2.2. Quán triệt tính chiến đấu, tính giáo dục, thuyết phục của Đoàn

>> Xem thêm:  Tập đoàn kinh tế là gì ? Tổng công ty là gì ? Đặc điểm pháp lý, cho ví dụ

Kiểm tra, giám sát phải kết họp biện chứng giữa xây với chống. Với tính chất của tổ chức Đoàn thì biện pháp xây dựng con người, xây dựng tổ chức chính là mục tiêu chính của công tác kiểm tra, giám sát. Vì vậy, trong quá trình chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, các cấp bộ Đoàn, ủy ban kiểm tra các cấp của Đoàn cần quán triệt một số điểm sau:

- Thường xuyên nắm bắt tình hình hoạt động của tổ chức Đoàn, hiểu rõ những thuận lợi, khó khăn, những ưu điểm, nhược điểm, trong hoạt động Đoàn ở từng địa bàn, lĩnh vực, trong mỗi cán bộ, đoàn viên để kịp thời cổ vũ những nhân tố tích cực, ngăn chặn, giáo dục, xử lý những biểu hiện tiêu cực.

- Đối với những cán bộ, đoàn viên mắc sai lầm, khuyết điểm phải xem xét, xử lý đúng mục đích, phương châm, nguyên tắc, thủ tục theo quy định của Điều lệ Đoàn và Hướng dẫn thực hiện Điều lệ Đoàn. Tránh tình trạng xử lý kỷ luật kéo dài, không khách quan hoặc không đúng, gây mất lòng tin trong quần chúng nhân dân, đoàn viên, thanh niên.

- Khi xem xét kỷ luật, giải quyết đơn thư khiếu tố phải căn cứ vào sinh hoạt phê bình và tự phê bình trong tổ chức Đoàn để làm rõ đúng sai, nguyên nhân, tính chất, mức độ vi phạm. Phê bình và tự phê bình phải xuất phát từ mục đích xây dựng Đoàn với phương pháp chân thành, thẳng thắn, nghiêm túc, độ lượng, đảm bảo tính chiến đấu, tính giáo dục có tính thuyết phục. Phải xác định rõ trách nhiệm của cán bộ, đoàn viên và tổ chức Đoàn để có phương hướng phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm.

Sau mỗi hoạt động giám sát, kiểm tra, mỗi lần xử lý kỷ luật phải rút ra những bài học bổ ích về thực hiện nhiệm vụ chính trị, về giáo dục, quản lý cán bộ, đoàn viên nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác, nhằm ngăn ngừa tái phạm sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đoàn viên.

2.3. Nắm vững và thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn

Kế thừa và phát huy tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra của Đảng, từ thực tiễn công tác kiểm tra và công tác xây dựng tổ chức Đoàn trong những năm qua. Tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn là “Chủ động, chiến đẩu, giảo dục, hiệu quả ”. Nội dung tư tưởng chỉ đạo của công tác kiểm tra, giám sát có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau và được thể hiện cụ thể qua các vấn đề chủ yếu sau:

- Tỉnh chủ động được thể hiện: Sau khi có nghị quyết, chủ trương, kế hoạch phải tổ chức thực hiện xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát việc tổ chức, thực hiện các chương trình, chủ trương, nghị quyết đó. Công tác kiểm tra, giám sát (nhất là giám sát) phải được tiến hành một cách thường xuyên, có nề nếp để chủ động, kịp thời, uốn nắn, điều chỉnh, đôn đốc nhắc nhở việc tổ chức thực hiện cụ thể, hiệu quả, đảm bảo mục đích, mục tiêu, nội dung, yêu cầu công tác; không thụ động để xảy ra biến cố, vụ việc rồi mới xem xét, giải quyết. Phải thường xuyên nắm vững tình hình hoạt động, năng lực tổ chức của tổ chức Đoàn cấp dưới và cán bộ, đoàn viên, luôn coi trọng yếu tố tự kiểm tra của cán bộ, đoàn viên và tổ chức cơ sở Đoàn. Trong kiểm tra, giám sát phải kịp thời động viên, cổ vũ mặt tích cực, tiến bộ, đồng thời ngăn ngừa, khắc phục mặt tiêu cực, lạc hậu nhằm chủ động, hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết điểm. Khi phát hiện tổ chức, cán bộ, đoàn viên có dấu hiệu vi phạm, phải tiến hành kiểm tra để xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời không để khuyết điểm phát triển thành vi phạm, tù’ không nghiêm trọng thành nghiêm trọng, từ một cán bộ, đoàn viên, một tổ chức đoàn vị phạm thành nhiều cán bộ, đoàn viên, tổ chức đoàn vi phạm.

- Tính chiến đấu của công tác kiểm tra, giám sát được thể hiện ở tỉnh thần đấu tranh, làm rõ đúng, sai trong quá trình tiến hành kiểm tra. Neu có vi phạm thì làm rõ nội dung mức độ, tác hại, nguyên nhân của vi phạm để bảo vệ cái đúng, cái tốt, khắc phục cái sai, cái xấu. Đây là cuộc đấu tranh thẳng thắn, quyết liệt giữa cái đúng - mặt tích cực với cái sai - mặt tiêu cực trong bản thân đối tượng được kiểm tra, giữa chủ thể tiến hành kiểm tra với đối tượng được kiểm tra, giữa cán bộ đoàn viên với nhau, giữa cán bộ đoàn viên với tổ chức đoàn, giữa tổ chức đoàn có thẩm quyền thi hành kỷ luật với đối tượng bị thi hành kỷ luật và ngay cả với chính bản thân cán bộ và tổ chức tiến hành kiểm tra. Không có tính chiến đấu cao, không có bản lĩnh vững vàng, không có phưong pháp thích hợp hoặc bị khuất phục, bị chi phối bởi uy quyền, vật chất, bởi chủ nghĩa cá nhân thì không kết luận được đúng, sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) khi tiến hành kiểm tra.

- Tính giáo dục của công tác kiểm tra của Đoàn được thể hiện ở mục đích là: “Thúc đay và giáo dục cản bộ, đoàn viên làm tròn nhiệm vụ đối với Đoàn, đổi với Đảng, làm gương tốt cho thanh niên, chứ không phải để vạch lá tìm sâu ”, để “trừng trị được thể hiện ở phương hướng tiến hành kiểm tra là phải phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên trong quá trình kiểm tra, cũng như trong phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Qua kiểm tra phải rút ra được các bài học về lãnh đạo, chỉ đạo, về tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đoàn để bồi dưỡng, nâng cao năng lực, sức chiến đẩu của tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên.

>> Xem thêm:  Bộ máy nhà nước là gì ? Đặc điểm của bộ máy máy nhà nước ? Phân loại cơ quan nhà nước ?

- Tính hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát được thể hiện: Sau các đợt kiểm tra, giám sát thì đối tượng được kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của mình để sửa chữa, phấn đấu tiến bộ, không hiểu sai, hiểu lệch mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát, không bi quan, chán nản, xa rời tổ chức, xa rời tập thể, mặc cảm. Hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát còn được thể hiện ở việc tổ chức Đoàn nơi có đối tượng được kiểm tra và bản thân tổ chức tiến hành kiểm tra, giám sát thấy được ưu điểm, khuyết điểm, rút ra quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát

3. Quan điểm của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát

Quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, từ ngày ra đời đến nay Đảng ta luôn đặt công tác kiểm tra, giám sát ở vị trí hàng đầu, có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt vào những giai đoạn bước ngoặt lịch sử, Đảng ta luôn chú trọng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, làm cho kiểm tra, giám sát phát huy hiệu lực thiết thực với tinh thần “nghiêm ngặt” như Bác Hồ đã dạy.

Khi bước vào thời kỳ khó khăn nhất trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ V (khoá I) ngày 16/8/1948 đã ra nghị quyết quan trọng “tình hình và nhiệm vụ mới của Đảng” trong đó dành phần nêu lên nhận định về những yếu kém của công tác kiểm tra. Nghị quyết viết: “kế hoạch đặt ra không có kiểm tra thúc giục. Bao nhiêu chỉ thị, Nghị quyết từ Trung ương cho đến các cấp không mấy khi kiểm điểm lại xem đã thi hành được những gì để rút kinh nghiệm, cứ buông trôi làm được đến đâu hay đến đó nên không sao biết được chủ trương đúng hay sai để sửa chữa kịp thời... Ngoài cách làm, báo cáo thường không khách quan, chỉ nói những điều hay, giấu những điều dở mà chúng ta thường thấy ở một vài báo cáo hay ở trong vài cuộc Hội nghị làm cho sự nhận định của cấp trên thường sai lệch, nguy hiểm...”

Đây là một nhận định hết sức quan trọng, vừa phản ảnh thực tiễn vừa chỉ ra tính chất nguy hiểm của những khuyết điểm nêu trên. Nghị quyết đã nêu ra 5 điểm cụ thể phải tập trung sửa chữa trong đó đặt lên hàng đầu là: “Trong quá trình công tác phải có kiểm tra, thúc giục và rút kinh nghiệm”.

Đến Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951) sau khi đánh giá đầy đủ những thành tích to lớn của toàn Đảng, toàn dân trong sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc, Đại hội nêu lên những thiếu sót, khuyết điểm cần khắc phục đồng thời vạch rõ những căn bệnh phổ biến và nghiêm trọng trong Đảng đòi hỏi phải thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện để đấu tranh khắc phục. Đó là “bệnh chủ quan, bệnh quan liêu xa quần chúng, không điều tra, nghiên cứu, không kiểm tra theo dõi việc thi hành, bệnh mệnh lệnh, bệnh hẹp hòi, bệnh công thần”.

Từ đó đến nay, suốt hơn nửa thế kỷ qua, Đảng ta đã nâng tầm và đúc rút nhiều kinh nghiệm về công tác kiểm tra của Đảng qua từng kỳ Đại hội trên cơ sở thấm nhuần, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam.

vấn đề có ý nghĩa và tầm quan trọng lớn lao là Đảng ta đã nêu lên những quan điểm chỉ đạo mang tính lý luận và thực tiễn cao làm kim chỉ nam đối với hoạt động kiểm tra, giám sát để các cấp Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân trong đó có Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tổ chức gần Đảng nhất, đội dự bị tin cậy của Đảng vận dụng, thực hiện.

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, cùng với việc đổi mới các lĩnh vực của đất nước, phương thức lãnh đạo của Đảng có những đổi mới quan trọng mà nổi bật là hình thành những quan điểm cơ bản về phương thức lãnh đạo trong điều kiện Đảng cầm quyền tiến hành cách mạng XHCN, phát triển kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện dân chủ hoá xã hội...

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 khoá VII của BCH Trung ương Đảng về xây dựng Đảng chỉ rõ: “Thực hiện nghiêm túc và triệt để các chế độ kiểm tra là một khâu rất quan trọng trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thực hiện tốt các Nghị quyết của Đảng”. Như vậy là bản thân công tác kiểm tra cũng là một mặt công tác cần được đổi mới nhằm góp phần đắc lực vào quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.

Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng khoá VII tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII một lần nữa khẳng định “Đối mới công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng có vị trí cực kỳ quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng”. Báo cáo chính trị của BCH Trung ương Đảng khóá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định “Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”.

Rõ ràng là từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XI nhận thức, tư tưởng về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đã được nâng lên tầm cao phù họp với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời gian của Đảng, Nhà nước và các tổ chức quần chúng. Vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát được đặt ở tầm “cực kỳ quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng”

Quán triệt sâu sắc và vận dụng có hiệu quả những quan điểm cơ bản về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng theo tinh thần các Nghị quyết Đại hội Đảng, nhất là từ Đại hội lần thứ VI đến lần thứ XI là vấn đề rất cấp thiết trong thời kỳ cách mạng mới. Các quan điểm đó là:

- Công tác kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhỉệm vụ của toàn Đảng. Điều lệ của Đảng do Đại hội lần thứ XI thông qua về nhiệm vụ đảng viên trong Điều 1 và Điều 2 có đoạn ghi rõ: “đảng viên chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước... tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng, phục tùng kỷ luật, giữ gìn thống nhất, đoàn kết trong Đảng...”. Công tác kiểm tra, giám sát có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, tất yếu đó là nhiệm vụ của toàn Đảng. Cho đến nay có một số không ít đảng viên nghĩ rằng cứ làm tốt những nhiệm vụ của Đảng giao, giữ gìn được phẩm chất cách mạng, liên hệ mật thiết với quần chúng... thế là đã hoàn tất nhiệm vụ đảng viên của mình, còn việc bảo vệ đường lối chủ trương của Đảng, bảo vệ tổ chức Đảng, thậm chí đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực trong Đảng trong đó có việc nói và làm không đúng với chủ trương, chỉ thị, Nghị quyết của Đảng đã có cơ quan chuyên môn lo, trách nhiệm kiểm tra, giám sát là thuộc cơ quan kiểm tra của Đảng. Sở dĩ có nhận thức chưa đúng nêu trên là do nhận thức về những nguyên tắc xây dựng Đảng chưa rõ. Tổ chức Đảng mạnh (nhất là ở cơ sở) là từ từng đảng viên biết tư duy và hành động đúng theo đường lối và những nguyên tắc xây dựng Đảng. Đảng ta là Đảng lãnh đạo và từng đảng viên phải làm công tác lãnh đạo quần chúng mà công tác kiểm tra, giám sát là hoạt động không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng do đó cũng không thể thiếu trong hoạt động của từng đảng viên. Đồng thời, quán ưiệt tư tưởng Hồ Chí Minh đảng viên còn phải tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tham gia công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nghĩa là phải luôn dựa vào dân mà kiểm ưa, giám sát việc đưa những chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống.

Đại hội Đảng lần thứ XI nhận định rằng việc “nhiều cấp ủy, tổ chức đảng chưa làm tốt công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng, chất lượng và hiệu quả kiểm tra, giám sát chưa cao; chưa coi trọng việc kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối chủ trương, chỉ thị, nghị quyết, thi hành Điều lệ Đảng, kiểm tra, giám sát phòng ngừa tiêu cực và phát huy nhân tố tích cực. Nhiều khuyết điểm, sai lầm của đảng viên và tổ chức đảng chậm được phát hiện. Tình trạng thiếu trách nhiệm, cơ hội, suy thoái đạo đức, lối sống vẫn diễn ra khá phổ biến trong một bộ phận cán bộ, đảng viên...”. Và đến Đại hội XII, Đảng tiếp tục nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm”. Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến chỗ không quán triệt được quan điểm cơ bản “công tác kiểm tra và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng” trong nhận thức cũng như hành động của các cấp, các ngành, đoàn thể, nhất là trong từng cán bộ, đảng viên.

- Đổi mới và thường xuyên tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, coi kiểm tra, giám sát có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Đảng ta chỉ rõ: “thực hiện nghiêm túc và triệt để chế độ kiểm tra là một khâu rất quan trọng trong việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các cấp uỷ Đảng cần tăng cường và nắm chắc nhiệm vụ kiểm tra và lãnh đạo các đoàn thể tổ chức nhân dần kiểm tra, bảo vệ luật pháp Nhà nước, giúp Nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả”. Đây là nội hàm rất quan trọng trong đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Trước hết, đó là vấn đề đặt lại vị trí vốn mang tính tất yếu khách quan của công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Hai là, tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát với tinh thần nghiêm túc, triệt để theo chế độ đã định. Muốn thực hiện được những điều này thì các cấp uỷ Đảng phải nắm chắc nhiệm vụ kiểm tra, giám sát nghĩa là không buông lỏng hoặc ít theo dõi kiểm tra, giám sát, đôn đốc các hoạt động của cơ quan chức năng. Thực tiễn cho thấy, muốn đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thì cần thực hiện: “công tác kiểm tra phải thành chế độ, kiểm tra có chương trình, kế hoạch. Cấp uỷ cần có chương trình toàn khoá về kiểm tra. Kiểm tra phát hiện những mặt tích cực để phát huy, chứ không chỉ thấy khuyết điểm, tiêu cực...” Đồng thời công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải kết hợp chặt chẽ với công tác thanh ưa của Nhà nước, thanh tra nhân dân để có kết luận rõ ràng và có chủ trương xử lý đúng đắn, nhất là đối với những cán bộ, đảng viên có chức, có quyền vi phạm pháp luật nhằm giữ vững niềm tin sắt son của nhân dân trong đó có thế hệ trẻ đối với Đảng ta, chế độ ta. Tích cực vận động quần chúng ưong đó chú ưọng cán bộ, đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia xây dựng Đảng, chẳng những đóng góp ý kiến về chủ trương, chính sách của Đảng mà còn tham gia phát hiện những vấn đề thuộc phẩm chất, tư cách của Đảng viên, báo cáo trung thực với cấp uỷ nhất là ở cơ sở để góp phần kiện toàn Đảng.

- Đảng lãnh đạo công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của Đảng, của Nhà nước và các Đoàn thể nhân dân. Những vấn đề cơ bản ưong quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đề ra đường lối, chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước; nắm vững tổ chức và cán bộ chính sách xây dựng và bảo vệ đất nước; nắm vững tổ chức và cán bộ để thực hiện có kết quả đường lối của Đảng”. Công tác kiểm tra của Đảng là để khuyến khích những mặt tốt, uốn nắn những lệch lạc, khuyết điểm như đã nêu ưên. Hệ thống chính trị ưên đất nước ta hoạt động theo cơ chế và nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, do đó Đảng lãnh đạo phát huy vai trò và hiệu lực chứ không điều hành thay Nhà nước. Đảng và mọi đảng viên đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật và chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình. Cho nên yêu cầu đặt ra là phải đổi mới và tăng cường công tác thanh ưa của các cơ quan hành pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời Đảng phát huy vai trò giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể quần chúng trong đó có Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, một thành viên của hệ thống chính trị trên đất nước ta. Vai ưò giám sát của các đoàn thể phải được thực hiện theo đúng chức năng và thẩm quyền của các đoàn thể đó dưới sự lãnh đạo của Đảng theo cơ chế và nguyên tắc đã nêu trên.

Mục tiêu cần đạt tới của quá trình đẩy mạnh sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát Đảng cũng như của Nhà nước, các đoàn thể quần chúng là nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan chức năng này nhằm “chủ động ngăn ngừa các sai phạm, xử lý nghiêm minh những trường họp vi phạm Điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước.” Việc củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan kiểm tra Đảng, thanh tra Nhà nước và thanh tra nhân dân là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong thời kỳ cách mạng mới.

- Công tác kiểm tra, giám sát phải thành chế độ, có chương trình, kế hoạch và phải tập trung vào các nội dung chủ yếu. Quá trình đổi mới các phương thức lãnh đạo của Đảng đặt ra yêu cầu phải đổi mới hoạt động các ban Đảng. Các ban Đảng là cơ quan tham mưu, giúp việc rất quan trọng của cấp uỷ, UBKT các cấp của Đảng là do cấp uỷ cùng cấp bao gồm một số đồng chí trong cấp uỷ và một số đồng chí ngoài cấp uỷ. Theo Điều lệ Đảng hiện hành “Kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng”. Vì vậy, việc đổi mới công tác kiểm tra, giám sát là yêu cầu vừa trước mắt, vừa lâu dài. Một số vấn đề trong nội hàm đổi mới đó là kiểm tra, giám sát phải thành chế độ, có chương trình, kế hoạch, nghĩa là nâng cao không ngừng tính chủ động và chất lượng hoạt động, khắc phục tính thụ động, đối phó nhằm bảo đảm có kết quả sự ngăn ngừa, phát hiện sớm những dấu hiệu vi phạm.

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được thực hiện một cách toàn diện, song cần tập trung vào những nội dung chủ yếu: kiểm tra thực hiện các Nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; kiểm tra chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; kiểm tra đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm cơ bản của Đảng ta về công tác kiểm tra là kim chỉ nam cho tư duy và hành động của chúng ta trên lĩnh vực này. Đại hội Đảng lần thứ XI của Đảng xác định nhiệm vụ “đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”, trong đó đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Ngày nay, trong thời kỳ cách mạng mới, đối với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh - Đội dự bị tin cậy của Đảng, thành viên trong hệ thống chính trị của đất nước, hơn lúc nào hết cần quán triệt sâu sắc và vận dụng một cách đúng đắn những quan điểm cơ bản của Đảng về công tác kiếm tra, giám sát như đã nêu trên, đảm bảo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đảng trao cho. Đây vừa là vấn đề lý luận, vừa là một mặt hoạt động thực tiễn quan trọng của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đã góp phần quan trọng vào việc: Thúc đẩy thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng; đổi mới và nâng cao phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức làm cho Đảng ta đủ sức lãnh đạo sự nghiệp cách mạng mà nhân dân, dân tộc tin cậy giao phó. Trong tình hình và bối cảnh hiện nay, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng càng quan trọng hơn. Nhận thức rõ điều này, Đảng ta đã xác định giải pháp về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng là một trong 4 nhóm giải pháp đề ra trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện ”tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”. (Nghị quyết số 04, ngày 30-10-2016 — gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 4). Và kết quả qua hơn một năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4: cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp đã có chuyển biến tích cực trong việc đẩy mạnh và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các nghị quyết của Trung ương, nhất là Nghị quyết Trung ương 4 và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị khoá XII về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Xử lý nghiêm minh và công khai kết quả một số tập thể, cá nhân ban hành văn bản không đúng, không phù họp hoặc thực hiện không nghiêm túc các nội dung nghị quyết, kết luận của Đảng, lạm quyền, lộng quyền, tha hoá quyền lực, tham nhũng.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thành lập 6 đoàn, kiểm tra 20 tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, cấp uỷ các cấp và chi bộ đã kiểm tra hơn 256 ngàn đảng viên và hơn 49 ngàn tổ chức đảng, các cơ quan tham mưu giúp việc cấp uỷ kiểm tra gần 6 ngàn đảng viên và hơn 3 ngàn tổ chức đảng; qua kiểm tra kết luận có 360 tổ chức đảng và 1.019 đảng viên có khuyết điểm, vi phạm trong đó phải thi hành kỷ luật 9 tổ chức đảng và 208 đảng viên. Giám sát chuyên đề gần 105 ngàn đảng viên và gần 32 ngàn tổ chức đảng; các ban tham mưu giúp việc cấp uỷ giám sát hơn 400 đảng viên và gần 1.300 tổ chức đảng; qua giám sát phát hiện 219 tổ chức đảng và 501 đảng viên có dấu hiệu vi phạm.

Ngoài việc tham mưu giúp cấp uỷ và thực hiện nhiệm vụ cấp uỷ giao, uỷ ban kiểm tra (UBKT) các cấp đã thực hiện toàn diện các nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định. Uỷ ban kiểm tra các cấp đã tập trung: Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với gần 9.500 đảng viên và gần 2.800 tổ chức đảng, kết luận có 6.553 đảng viên và 1.852 chức đảng có khuyết điểm, vi phạm, phải thi hành kỷ luật 3.606 đảng viên và đề nghi cấp uỷ thi hành kỷ luật 96 tổ chức đảng. Giám sát chuyên đề đối với gần 22 ngàn tổ chức đảng và gần 30 ngàn đảng viên, qua giám sát phát hiện 1.309 tổ chức đảng và 2.013 đảng viên có hạn chế, khuyết điểm, trong đó chuyển kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 169 tổ chức đảng và 1.320 đảng viên. Giải quyết tố cáo đối với hơn 2.100 đảng viên và 55 tổ chức đảng, qua giải quyết tố cáo kết luận có 17 tổ chức và 707 đảng viên vi phạm, trong đó phải thi hành kỷ luật 2 tổ chức đảng và 397 đảng viên...

Cấp uỷ các cấp đã thi hành kỷ luật 145 tổ chức đảng; các cấp uỷ và chi bộ thi hành kỷ luật 12.012 đảng viên. Uỷ ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 2.827 đảng viên. Đặc biệt, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ ban kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật “công minh, chính xác, kịp thời” và công khai, minh bạch vi phạm, hình thức xử lý đối với một số cán bộ cao cấp ở một số bộ, tỉnh, thành, tập đoàn kinh tế nhà nước, kể cả Uỷ viên Bộ Chính trị và đưa tin công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng đã góp phần cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, giáo dục đối với cán bộ, đảng viên, nhất là đối với cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, lạm quyền, lộng quyền, lợi dụng quyền lực, tha hoá quyền lực và cán bộ là người nhà, người thân của cán bộ lânh đạo, chủ chốt các cấp có nhiều dư luận, được nhân dân đồng thuận cao.

Qua công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng đối với những vụ việc tham nhũng, nhất là tham nhũng ở một số tập đoàn kinh tế, ngân hàng vừa qua đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Mặt khác, qua thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng đã bước đầu tạo cơ sở khoa học cho việc: Tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm của Uỷ ban kiểm tra các cấp trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên; tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao; tăng cường phối hợp giữa Ủy ban kiểm tra với các cơ quan thanh tra, điều tra, cơ quan tư pháp làm rõ và xử lý nghiêm minh đối với những vụ việc phức tạp, có dấu hiệu suy thoái, tha hoá quyền lực, tham nhũng. Đồng thời, là một trong những cơ sở khoa học để hoàn thiện các quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước như: Ban hành Quy định về kê khai và kiểm ứa việc kê khai tài sản, giải trình và giám sát tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên; bổ sung hình thức kỷ luật đối với 29 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói, việc làm biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” của cán bộ, đảng viên mà Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu cụ thể vào Quy định 102 về xử lý đảng viên vi phạm của Bộ Chính trị khoá XII.

4. Quan điểm của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát

Quán triệt sâu sắc và vận dụng quan điểm cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn luôn được các cấp bộ đoàn quan tâm chỉ đạo. Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VII khẳng định “Tăng cường công tác kiểm tra của Đoàn, coi đổi mới công tác kiểm tra là một trong những biện pháp quan trọng nhằm tiếp tục đổi mới công tác chỉ đạo của các cấp bộ đoàn” và Đại hội cũng đã xác định và đưa ra 7 giải pháp lớn để thực hiện thành công nghị quyết Đại hội Đoàn là “Tăng cường công tác chỉ đạo; nâng cao vị trí của công tác kiểm tra; chỉ đạo, uốn nắn và định hướng phong trào;...”. Đen Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII tiếp tục xác định “Tập trung nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ công tác kiểm tra cho đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp của Đoàn, đặt trọng tâm vào việc kiểm tra thực hiện các chủ trương công tác của Đoàn, đánh giá được hiệu quả việc thực hiện cũng như tính thực tiễn của từng chủ trương do Ban Chấp hành, Ban Thường vụ đoàn các cấp ban hành, kiểm tra việc chấp hành Điều lệ Đoàn và kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đoàn viên thanh niên”. Bước vào thời kỳ đất nước đẩy mạnh hội nhập, để đáp ứng với yêu cầu phát triển của công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi cả nước, Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác kiểm tra, giám sát là “Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của đoàn, phục vụ công tác chỉ đạo, củng cố và xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh. Đoàn tập trung nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát cho cán bộ lãnh đạo các cấp của Đoàn; đặt trọng tâm vào việc kiểm tra, giám sát thực hiện các chủ trương công tác của đoàn, đánh giá được hiệu quả việc thực hiện cũng như tính thực tiễn của từng chủ trương do cấp bộ đoàn các cấp ban hành; kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đoàn và kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phàn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, thanh niên”, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đoàn đề ra phương hướng: “Tiếp tục nâng cao nhận thức của cấp bộ đoàn và đội ngũ cán bộ đoàn về công tác kiểm tra, giám sát; tăng cường việc xây dựng và chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát, quan tâm xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ và đầu tư cơ sở vật chất, phục vụ công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn”, quán triệt những quan điểm trên công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn được thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:

Một là, Nắm vững và thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn.

Tư tưởng chỉ đạo công tác kiểm tra của Đoàn được đúc kết từ thực tiễn công tác kiểm tra, giám sát và công tác xây dựng Đoàn trong những năm qua, vừa kế thừa và phát huy tư tưởng chỉ đạo và thực tiễn tổ chức hoạt động kiểm tra, giám sát đó là: “chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”.

- Tính chủ động của công tác kiểm tra, giảm sát được thế hiện. Sau khi có Nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch tổ chức thực hiện phải xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát việc tổ chức, thực hiện. Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành một cách thường xuyên, có nề nếp để kịp thời uốn nắn, điều chỉnh, đôn đốc nhắc nhở việc tổ chức thực hiện cụ thể sao cho có hiệu quả, đảm bảo mục đích, mục tiêu, nội dung, yêu cầu công tác, không thụ động để xảy ra biến cố, vụ việc rồi mới xem xét, giải quyết. Phải thường xuyên nắm vững tình hình hoạt động, năng lực tổ chức của tổ chức Đoàn cấp dưới và cán bộ, đoàn viên, luôn coi trọng sự tự kiểm tra, giám sát của cán bộ, đoàn viên và tổ chức cơ sở Đoàn. Trong kiểm tra phải kịp thời động viên, cổ vũ mặt tích cực, tiến bộ, đồng thời ngăn ngừa, khắc phục mặt tiêu cực, lạc hậu nhằm chủ động, hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết điểm. Khi phát hiện tổ chức, cán bộ, đoàn viên có dấu hiệu vi phạm phải tiến hành kiểm tra để xem xét, xử lý công minh, chính xác, kịp thời không để khuyết điểm phát triển thành vi phạm, từ không nghiêm trọng thành nghiêm trọng, từ một cán bộ, đoàn viên, một tổ chức Đoàn vi phạm thành nhiều cán bộ, đoàn viên, tổ chức Đoàn vi phạm.

- Tính chiến đấu của công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn được thể hiện ở tỉnh thần đẩu tranh làm rô đủng, sai trong quá trình tiến hành kiểm tra, giám sát. Nếu có vi phạm thì làm rõ nội dung mức độ, tác hại, nguyên nhân của vi phạm để bảo vệ cái đúng, cái tốt, khắc phục cái sai, cái xấu. Đây là cuộc đấu tranh thẳng thắn, quyết liệt giữa cái đúng - mặt tích cực với cái sai - mặt tiêu cực trong bản thân đối tượng được kiểm tra, giữa chủ thể tiến hành kiểm tra với đối tượng được kiểm tra, giữa cán bộ, đoàn viên với nhau, giữa cán bộ, đoàn viên với tổ chức Đoàn, giữa tổ chức Đoàn có thẩm quyền thi hành kỷ luật với đối tượng bị thi hành kỷ luật và ngay cả với chính bản thân cán bộ và tổ chức tiến hành kiểm tra. Không có tính chiến đấu cao, không có bản lĩnh vững vàng, không có phương pháp thích họp hoặc bị khuất phục, bị chi phối bơi uy quyền, vật chất, bởi chủ nghĩa cá nhân thì không kết luận được đúng, sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) khi tiến hành kiểm tra.

- Tính giáo dục của công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn được thể hiện ở mục đích là: “Thúc đẩy và giáo dục cán bộ, đoàn viên làm tròn nhiệm vụ đối với Đoàn, đối với Đảng, làm gưong tốt cho thanh niên, chứ không phải để vạch lá tìm sâu”, để “trừng trị” được thể hiện ở phương hướng tiến hành kiểm tra là: phải phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên trong quá trình kiểm tra cũng như trong phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Qua kiểm tra phải rút ra được các bài học về lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đoàn để bồi dưỡng, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên.

- Tính hiệu quả của công tác kỉểm tra, giảm sát được thể hiện là sau khi kết thúc cuộc kiểm tra, giám sát thì đối tượng được kiểm tra thấy được ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của mình để sửa chữa, phấn đấu tiến bộ, không hiểu sai, hiểu lệch mục đích, yêu cầu của công tác kiểm tra, giám sát, không bi quan chán nản, xa rời tổ chức, xa rời tập thể, mặc cảm. Hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát còn được thể hiện ở việc tổ chức Đoàn nơi có đối tượng được kiểm tra và bản thân tổ chức tiến hành kiểm tra thấy được ưu điểm, khuyết điểm, rút ra kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo, về quản lý, giáo dục cán bộ, đoàn viên về lãnh đạo công tác kiểm tra và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra để xây dựng Đoàn vững mạnh hoàn thành nhiệm vụ chính trị của tổ chức.

Hai là, phải dựa vào tố chức đoàn.

Tổ chức đoàn là cơ quan quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đoàn viên và tổ chức đoàn cấp dưới. Có dựa vào tổ chức đoàn thì chủ thể kiểm tra mới hiểu rõ đặc điểm tình hình, điều kiện, hoàn cảnh, những thuận lợi, khó khăn, ưu điểm, khuyết điểm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, đối tượng được kiểm tra để có cơ sở xem xét, kết luận một cách chính xác.

Dựa vào tổ chức vừa là phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra, vừa là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng tổ chức đoàn, nhưng trong tình hình cụ thể của tổ chức đoàn để có cách vận dụng cho phù họp. Trường họp cần thiết có thể kiện toàn tổ chức trước khi kiểm tra.

Ba là, phát huy tỉnh thần tự giác của tổ chức Đoàn, của cán bộ, đoàn viên.

Tổ chức đoàn được thành lập theo quy định của Điều lệ Đoàn, có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể. Đoàn viên là những thanh niên ưu tú, tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đoàn, phấn đấu cho mục đích, lý tưởng. Khi tiến hành công tác kiểm tra, các tổ chức đoàn cần coi trọng và làm tốt công tác tư tưởng đối với mọi đối tượng được kiểm tra nhằm nâng cao và phát huy tinh thần tự giác, tự phê bình để nhận rõ ưu, khuyết điểm, vi phạm giúp cho tổ chức kiểm tra có cơ sở để kết luận chính xác. Đối với những trường hợp cán bộ, đoàn viên, quanh co, giấu giếm sai lầm khuyết điểm cần kiên trì động viên, thuyết phục kết hợp với đấu tranh và thẩm tra, xác minh để làm rô đúng, sai.

Bân là, phát huy trách nhiệm xây dựng đoàn của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Tổ chức đoàn là tổ chức của những người cộng sản trẻ tuổi, là trường học cộng sản của thanh niên Việt Nam. Xây dựng tổ chức đoàn vừng mạnh, giáo dục cán bộ, đoàn viên là trách nhiệm của Đảng, trách nhiệm của tổ chức Đảng và của cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng lấy dân làm gốc không những được quán triệt trong công tác xây dựng Đảng, mà còn được quán triệt trong công tác xây dựng đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác, cần động viên quần chúng tham gia xây dựng đoàn, góp phần kiểm tra hoạt động của tổ chức đoàn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ công tác và phẩm chất của cán bộ, đoàn viên. Mọi hoạt động của tổ chức Đoàn, của cán bộ, đoàn viên cần phải được nhân dân quan tâm. Những ý kiến quần chúng nhân dân và thanh niên đóng góp đúng phải được trân trọng tiếp thu, khuyến khích, cổ vũ. Nếu có ý kiến chưa đúng phải giải thích để mọi người hiểu rõ, tạo nên sự đoàn kết thống nhất trong cấp uỷ Đảng, trong đơn vị.

Năm là, làm tốt công tác thẩm tra, xác minh.

Yêu cầu cơ bản của công tác kiểm tra là phải đánh giá, kết luận đúng ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) của tổ chức đoàn, cán bộ, đoàn viên để có quyết định chính xác. Muốn vậy ngoài việc phát huy tinh thần tự giác của tổ chức Đoàn, cán bộ, đoàn viên và quần chúng nhân dân, thì phải hết sức coi trọng và làm tốt công tác thẩm tra, xác minh. Thực tiễn cho thấy, có nhiều tổ chức đoàn và cán bộ, đoàn viên khi được kiểm tra đã tự giác trình bày nghiêm túc trước tổ chức Đảng và tổ chức đoàn có thẩm quyền cả ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm của bản thân và tổ chức của mình nhưng cũng có không ít cán bộ, đoàn viên quanh co, giấu diếm thậm chí tìm mọi cách đối phó gây khó khăn trở ngại đối với công tác kiểm ra. Có trường họp thiếu tự giác, còn hữu khuynh, thiếu tính chiến đấu. Mọi hoạt động của tổ chức Đoàn và đoàn viên bao giờ cũng diễn ra trong không gian, thời gian, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể với những diễn biến tình tiết khác nhau nhiều khi liên quan đến nhiều tổ chức, nhiều người, nhiều cấp khác nhau; có việc còn giữ nguyên bằng chứng, có việc bằng chứng bị thất lạc hoặc bị thay đổi do đó đòi hỏi phải làm tốt công tác thẩm tra xác minh. Chưa thẩm tra xác minh thì chưa được kết luận.

Sáu là, kết hợp chột chẽ công tác kiểm tra của Đoàn với công tác kiểm tra cùa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể, tổ chức có liên quan.

Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra của Đoàn với công tác kiểm tra của Đảng, công tác thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân, và công tác kiểm tra của các đoàn thể chính trị xã hội khác, phối hợp với các ban ngành có liên quan. Cán bộ, đoàn viên hoạt động trong mọi đời sống chính trị xã hội, cán bộ, đoàn viên vừa là thành viên của tổ chức Đoàn vừa là thành viên của các tổ chức chính trị xã hội khác. Cán bộ, đoàn viên vi phạm chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và vi phạm kỷ luật của các tổ chức chính trị xã hội khác mà mình tham gia cũng là vi phạm kỷ luật đoàn. Vì vậy, nếu không có cơ chế chặt chẽ phù họp, không có sự phối hợp nhất là trong công tác kiểm tra, kỷ luật dễ dẫn đến tình trạng thiếu tập trung thống nhất, chồng chéo, sơ hở, giải quyết các vụ việc không kịp thời chính xác. Việc phối kết hợp với cơ quan kiểm tra của Đảng, thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân và công tác kiểm tra của các đoàn thể chính trị xã hội, nghề nghiệp và việc phối hợp với các ban ngành có liên quan trong công tác kiểm tra, công tác kỷ luật của Đoàn, phát huy được sức mạnh tổng họp, phát huy các điều kiện cơ sở vật chất, sức người với kinh nghiệm của ngành, đơn vị và của cán bộ kiểm tra thuộc ngành, đơn vị đó phục vụ cho công tác xây dựng Đoàn, công tác kiểm tra, công tác kỷ luật của Đoàn, đặc biệt trong điều kiện biên chế cán bộ đoàn còn đang hạn hẹp.

5. Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn

5.1. Lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát

Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đoàn các cấp lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát thông qua việc:

+ Ban hành các văn bản chỉ đạo (nghị quyết, quy chế, quy định, hướng dẫn,…) về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật theo thẩm quyền;

+ Chỉ đạo cấp bộ đoàn cấp dưới, các ban chuyên môn và Uy ban kiểm tra cùng cấp xây dựng, thực hiện phương hướng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát trong từng thời gian; định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật;

+ Lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của Uỷ ban kiểm tra; quyết định quy chế làm việc của Uỷ ban kiểm tra; quyết định việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra của Đoàn theo thẩm quyền về công tác cán bộ;

+ Trực tiếp chỉ đạo, tổ chức thực hiện một số hoạt động kiểm tra, giám sát khi cần thiết.

5. 2. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát

Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Đoàn các cấp xây dựng kế hoạch trong đó xác định rõ nội dung, đối tượng, thời gian, phương pháp tiến hành kiểm tra, giám sát; tổ chức phối hợp lực lượng, phân công cụ thể từng Uỷ viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành và các Ban chức năng của Đoàn tiến hành kiểm tra, giám sát.

5.3. Nội dung kiểm tra, giám sát

Việc thực hiện nghị quyết đại hội Đoàn cùng cấp và cấp trên, các chỉ thị nghị quyết, các chủ trương công tác của Đoàn, việc chấp hành Điều lệ, các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đoàn.

Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế ở từng thời điểm, cấp bộ Đoàn và Uỷ ban kiểm tra các cấp lựa chọn, cụ thể hóa nội dung kiểm tra, giám sát cho phù hợp.

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Nhiệm vụ của Ban chấp hành Đoàn các cấp?

Trả lời:

- Lãnh đạo công tác xây dựng Đoàn, Hội, Đội.

- Tổ chức thực hiện nghị quyết đại hội Đoàn cấp mình và chỉ đạo, hướng dẫn cấp dưới thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng và của Đoàn cấp trên.

- Định kỳ báo cáo về tình hình hoạt động của Đoàn với cấp ủy, với Đoàn cấp trên và thông báo cho cấp dưới.

- Kiến nghị, đề xuất và phối hợp với các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức kinh tế - xã hội để giải quyết những vấn đề có liên quan đến công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi.

Câu hỏi: Những tổ chức có thẩm quyền quyết định kỷ luật của đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh?

Trả lời:

Chi đoàn và chi đoàn cơ sở

Ban chấp hành từ Đoàn cơ sở trở lên

Câu hỏi: Số lượng ủy viên Ban Thường vụ Đoàn ở các cấp?

Trả lời:

Số lượng ủy viên Ban Thường vụ ở các cấp không quá một phần ba (1/3) số lượng ủy viên Ban chấp hành Đoàn cùng cấp.