1.Khái niệm đặt cọc là gì ?
Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
2.Phân biệt giữa đặt cọc và trả tiền trước
Thứ nhất: Về khái niệm đặt cọc đã được nêu rõ ở phần phân tích trên, còn với “tiền trả trước” pháp luật hiện hành không có quy định về việc “trả tiền trước”. Tuy nhiên, trong thực tiễn thì có thế hiểu đơn giản, tiền trả trước là một khoản tiền mà bên có nghĩa vụ tiến hành trả trước cho bên có quyền nhằm thực hiện hợp đồng sẽ giao kết hoặc đã giao kết.
Thứ hai: Về mục đích: Phần tiền trả trước này để khấu trừ luôn vào phần nghĩa vụ cần thực hiện trong hợp đồng chứ không nhằm mục đích bảo đảm giao kết hay thực hiện hợp đồng như đặt cọc.
Thứ ba: Về hậu quả pháp lí khi có vi phạm.
– Đối với đặt cọc:
+ Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. (coi như là khoản bồi thường cho việc vi phạm thỏa thuận)
+ Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. (coi như là khoản bồi thường cho việc vi phạm thỏa thuận)
– Đối với tiền trả trược: khi có bên vi phạm nghĩa vụ hay không tiến hành giao kết hợp đồng như ý chí ban đầu thì khoản tiền trả trược về nguyên tắc sẽ được hoàn trả lại cho bên đã trả và sẽ không chịu khoản phạt nào. Điểm này khác hoàn toàn so với hậu quả pháp lý của biện pháp đặt cọc như đã đề cập ở phần trên.
3. Một vụ án “Tranh chấp đặt cọc hợp đồng mua bán hàng hoá”
Dưới đây là một vụ án “Tranh chấp đặt cọc hợp đồng mua bán hàng hoá”, mà bên nhận đặt cọc phải trả lại tiền đặt cọc và bị phạt cọc tương đương với sô tiền đặt cọc.
Ngày 27/4/2015, Công ty cổ phần H ký hợp đồng bán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn sản xuất thương mại T 200 tấn hạt điều thô Nigiêria, tổng giá trị hợp đồng là 4,7 tỷ đồng; bên mua đặt cọc 10% giá trị hợp đồng. Bên bán hoàn trả 100% giá trị đặt cọc và bồi thường 100% giá trị đặt cọc nếu không thực hiện hợp đồng. Bên mua mất 100% giá trị đặt cọc nếu không thực hiện hợp đồng.
Công ty T đã đặt cọc 470 triệu đồng. Sau khi Công ty H không có hàng bán, đã trả lại tiền đặt cọc.
Bản án số 89/2016/KDTM ngày 30/9/2016 của Tòa án nhân dân quận T, thành phô' H đã yêu cầu Công ty H phải trả cho Công ty T khoản tiền tương đương số tiền đặt cọc là 470 triệu đồng.
Tài sản đặt cọc có thể là tiền, giấy tờ có giá và động sản khác nói chung. Tòa án nhân dân tối cao đã từng hướng dẫn chấp nhận trường hợp đặt cọc xe ô tô để bảo đảm cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán nhà ở .
4.Vấn đề chung về đặt cọc
Cả ba Bộ luật Dân sự năm 1995, 2005, 2015 đều chỉ có một điều quy định về đặt cọc giống nhau. Đó là việc bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc một tài sản đặt cọc, có thể là “một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác” trong một thời hạn “để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng”. “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
- Quy định về tài sản đặt cọc :
Việc quy định tài sản đặt cọc là “kim khí quý, đá quý” bên cạnh “vật có giá trị” là không cần thiết và không hợp lý. Đây là tư duy ám ảnh với cụm từ “vàng, bạc, kim khí quý và đá quý” hay được nhấn mạnh trong thời kỳ còn cơ chế hành chính quan liêu bao cấp trước khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định tài sản gồm 4 loại là vật, tiền, giấy tò có giá và quyền tài sản, trong khi quy định tài sản đặt cọc chỉ bao gồm “tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác”. Như vậy, tuy Bộ luật Dân sự năm 2015 không cấm, nhưng cũng giống với ký quỹ, tài sản đặt cọc không bao gồm vật là động sản nói chung, mà chỉ gồm một số động sản.
Tuy pháp luật không cấm việc đặt cọc bằng bất động sản, nhưng so sánh với các quy định về tài sản cầm cố, thế chấp thì có thể hiểu bất động sản cũng không thể là tài sản dùng để đặt cọc.
Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn quy định việc đặt cọc phải được lập thành văn bản như Bộ luật Dân sự năm 2005. Đồng thời, cũng không có trường hợp nào hợp đồng đặt cọc bắt buộc phải công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm như đối với một số hợp đồng thế chấp. Kể cả khi hợp đồng chính phải bằng văn bản và được công chứng, chứng thực thì hợp đồng đặt cọc cũng không nhất thiết phải tuân theo điều kiện bằng văn bản và được công chứng, chứng thực. Vì vậy, hoàn toàn có thể sử dụng hợp đồng đặt cọc để ràng buộc hợp pháp các bên ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán, chuyển nhượng bất động sản, kể cả trường hợp bất động sản chưa đủ điều kiện để mua bán, chuyển nhượng.
Quy định về đặt cọc về cơ bản là giống với quy định về cầm cố, cũng giao tài sản (nhấn mạnh tiền, hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác) để bảo đảm nghĩa vụ. Đặt cọc có một điểm khác cơ bản với cầm cố và tất cả các biện pháp bảo đảm khác là, ngoài việc để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng thì còn để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng.
Đặc điểm khác biệt lớn nhất của đặt cọc so với các biện pháp bảo đảm khác là, nếu bên nhận đặt cọc vi phạm nghĩa vụ thì phải trả cho bên kia (phạt cọc) gấp đôi số tiền đặt cọc (gồm tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc), trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Như vậy, nếu như có thỏa thuận thì bên nhận đặt cọc có thể phải trả lại ít hơn hoặc nhiều hơn 2 lần số tiền đặt cọc. Đặc biệt có được áp dụng phạt cọc khác đi đôi với trưồng hợp “bên đặt cọc” vi phạm không, hay chỉ có một cách xử lý duy nhất là “tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc”? Với cách viết “trừ trường hợp có thỏa thuận khác” như trên, thì không biết có “trừ” đối với cả hai trường hợp, hay chỉ trừ đối với trường hợp sau.
Nếu như thỏa thuận phạt cọc gấp vài ba lần số tiền đặt cọc thì bình thường, nhưng nếu thỏa thuận phạt cọc gấp hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng triệu lần số tiền đặt cọc thì khó có thể được Tòa án chấp nhận, cho dù không có quy định nào hạn chế việc này. Ngay cả “lẽ công bằng” theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì Tòa án cũng chỉ được sử dụng nếu như các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập quán và không thể áp dụng tương tự. Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định trường hợp cả hai bên đều có lỗi (mức ngang nhau hoặc nặng nhẹ khác nhau) trong việc không giao kết, thực hiện hợp đồng, thì xử lý như thế nào.
5. Một số vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện
Đặt cọc là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý, vật có giá trị khác trong một thời hạn nhằm để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, quy định về biện pháp bảo đảm này còn tồn tại một số vướng mắc, do đó tác giả sẽ phân tích và đề xuất hoàn thiện những hạn chế còn tồn đọng.
Về hình thức của đặt cọc, Điều 328 BLDS hiện hành không quy định hình thức bắt buộc của đặt cọc nên các bên có thể tự do tự thoả thuận về hình thức. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, cần xác định hình thức bắt buộc đối với đặt cọc. Hình thức phổ biến nhất hiện nay đó là văn bản, các bên có thể lập hợp đồng đặt cọc bằng văn bản độc lập hoặc đưa vào nội dung của hợp đồng chính, miễn là việc đặt cọc được văn bản hoá và việc này trở lại tinh thần của BLDS cũ. Việc xác lập giao dịch đặt cọc thành văn bản một mặt giúp các bên trong hợp đồng có “cơ sở” rõ ràng, “giấy trắng mực đen” để xác định quyền, nghĩa vụ của mỗi bên trong giao dịch đặt cọc (quyền, nghĩa vụ của các bên trong đặt cọc đã được quy định tại Điều 38 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ), mặt khác đó còn là bằng chứng mang tính pháp lý giúp Toà án giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các vụ tranh chấp phát sinh từ đặt cọc. Theo tác giả, nhà làm luật cần xây dựng một quy định riêng về hình thức của đặt cọc bằng văn bản và có thể xác lập một hợp đồng riêng hoặc có thể ghi vào hợp đồng chính mà các bên xác lập.
Về tài sản đặt cọc, Điều 328 BLDS 2015 quy định rõ những tài sản được xem là tài sản đặt cọc, bao gồm một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác. Theo khoản 1, 2 Điều 3 Thông tư 17/2014/TT-NHNN ngày 01/8/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại, đóng gói, giao nhận kim khí quý, đá quý, kim khí quý bao gồm vàng, bạc, bạch kim và các loại kim loại quý khác; đá quý bao gồm kim cương (hạt xoàn), ruby (hồng ngọc), emorot (lục bảo ngọc), saphia (bích ngọc), ngọc trai (trân châu) và các loại đá quý khác. BLDS quy định tài sản đặt cọc còn có thể là “vật có giá trị khác”; tuy nhiên “giá trị” mà BLDS đề cập lại chưa được làm rõ, liệu đó là giá trị sử dụng (thể hiện qua công dụng mà tài sản đem lại cho người sử dụng)