Tranh chấp hợp đồng đặt cọc thường phát sinh khi bên bán không thực hiện nghĩa vụ bán hoặc bên đặt cọc tiền tiến hành việc mua theo quy định của pháp luật. Chuyên mục: "Tranh chấp hợp đồng đặt cọc" phân tích tất cả các quy định pháp luật có liên quan đến dạng tranh chấp này.
Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không quy định rõ, phần đặt cọc tối đa bằng bao nhiêu phần trăm giá trị hợp đồng. Như vậy, có thể đặt cọc số tiền có giá trị lớn lên đến 80-90% thậm chí 100% giá trị hợp đồng. Chưa thấy bản án nào chấp nhận hoặc không chấp nhận tỷ lệ đặt cọc lớn như vậy.
Thưa luật sư, xin hỏi: Tháng 2/2017, vợ chồng ông An bà Hằng (đang thường trú tại Hải Phòng) biết bà Lan (thường trú tại La Thành, Hà Nội) có nhu cầu bán căn nhà có diện tích 60m2 (trên phố Phan Đình Phùng, Hà Nội). Tài sản này đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ngôi nhà và diện tích đất này đang là tài sản thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn nhằm đảm bảo khoản vay 3 tỉ của bà Lan tại ngân hàng.
Thưa luật sư, Ngày 21/4/2020 Tôi có ký hợp đồng đặt cọc với ông H sinh năm 1943 tại địa chỉ số ... tổ ..., phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng một phần đất đã có sổ đỏ là 1982,4 m2 và một phần đất chỉ có hợp đồng mua bán viết tay chưa tiến hành sang tên.
Nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. (coi như là khoản bồi thường cho việc vi phạm thỏa thuận)
Đặt cọc mua bán đất đai là một trong bước quan trọng để thực hiện việc mua bán đất đai, các bên có thể ký kết hợp đồng mua bán đất đai trực tiếp hoặc ký hợp đồng đặt cọc mua bán đển có thời gian chuẩn bị về tài chính. Luật sư tư vấn và giải đáp thêm về vấn đề trên: