1. Hướng dẫn về trường hợp có tranh chấp về đặt cọc

Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP đã hướng dẫn về trường hợp có tranh chấp về đặt cọc mà các bên không có thỏa thuận khác về việc xử lý đặt cọc, thì việc xử lý được thực hiện như sau:

Trong trường hợp đặt cọc chỉ để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng hoặc chỉ để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng hoặc vừa để bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng vừa để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng thì bên nào có lỗi làm cho hợp đồng không được giao kết hoặc không được thực hiện hoặc bị vô hiệu, thì phải chịu phạt cọc theo quy định của Bộ luật Dân sự;

Trong các trường hợp giao kết hợp đồng đặt cọc chỉ để đảm bảo, nếu trong quá trình thực hiện hợp đồng mới có sự vi phạm làm cho hợp đồng không được thực hiện hoặc mới phát hiện hợp đồng bị vô hiệu thì không phạt cọc. Việc giải quyết tranh chấp về vi phạm hợp đồng hoặc xử lý hợp đồng vô hiệu được thực hiện theo thủ tục chung;

Trong trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định điều kiện nếu đặt cọc bị vô hiệu là hợp đồng cũng bị vô hiệu, thì hợp đồng đương nhiên bị vô hiệu khi đặt cọc đó bị vô hiệu.

Trong các trường hợp nếu cả hai bên cùng có lỗi hoặc trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trồ ngại khách quan thì không phạt cọc.

Tuy nhiên, nếu như hai bên cùng có lỗi nhưng mức độ lỗi nặng, nhẹ chênh lệch nhau với mức độ lớn mà không phạt cọc theo hướng dẫn trên thì cũng có phần bất hợp lý.

 

2. Ví dụ một vụ tranh chấp hợp đồng đặt cọc 

Một ví dụ về vụ tranh chấp hợp đồng đặt cọc được Tòa án xác định là có trở ngại khách quan nên không phạt cọc.

Ngày 22/6/2008, hai bên làm hợp đồng đặt cọc, ông Nông Văn P chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn L 915 m2 đất với giá 800 triệu đồng, ông L đặt cọc 300 triệu đồng, số tiền còn lại sẽ thanh toán hết trong thời hạn 1 tháng sau khi đặt cọc. Sau đó, hai bên làm hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, úy ban nhân dân xã không làm thủ tục chuyển nhượng vì lý do đất có tranh chấp, nên ông L không thanh toán nốt 500 triệu đồng cho ông P.

Bản án sơ thẩm số 26/2008/TLST-DS ngày 20/2/2009 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Đ đã quyết định hủy hợp đồng đặt cọc, buộc ông P trả lại cho ông L 300 triệu đồng (không phạt cọc) vì lỗi khách quan, không phải của hai bên (cả hai đều không biết có người làm đơn ngăn chặn khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất).

Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không quy định rõ, phần đặt cọc tối đa bằng bao nhiêu phần trăm giá trị hợp đồng. Như vậy, có thể đặt cọc số tiền có giá trị lớn lên đến 80-90% thậm chí 100% giá trị hợp đồng. Chưa thấy bản án nào chấp nhận hoặc không chấp nhận tỷ lệ đặt cọc lớn như vậy.

Từ ngày 01/4/2021, Chính phủ quy định thỏa thuận khoản tiền đặt cọc giữa bên cho thuê và bên thuê nhà ở xã hội không vượt quá 50% giá trị của nhà ở cho thuê. Trong trường hợp bên thuê nộp khoản tiền đặt cọc theo quy định tại khoản này thì được giảm giá cho thuê nhà ở hoặc không phải đóng tiền thuê nhà ở trong một thời hạn nhất định do hai bên thỏa thuận.

Bộ luật Dân sự năm 2015 sử dụng cụm từ “để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng” cũng không chính xác khi sử dụng từ “hoặc”, vì ngoài trường hợp đặt cọc là để bảo đảm một trong hai việc thì còn có thể đồng thời để bảo đảm cho cả hai việc này, tức là sau khi bảo đảm cho việc giao kết xong thì để bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng.

Trên thực tế, thường xảy ra một số tình huống không rõ ràng. Chẳng hạn, các bên chỉ thỏa thuận biện pháp đặt cọc, mà không ghi rõ để giao kết và thực hiện hợp đồng. Khi đó đương nhiên được thừa nhận là để bảo đảm cả hai nghĩa vụ. Do đó, nếu đặt cọc được thỏa thuận trong hợp đồng chính thì khi đó không còn tác dụng để bảo đảm việc giao kết mà chỉ còn để bảo đảm việc thực hiện hợp đồng.

Một trường hợp cũng hay xảy ra trên thực tế là các bên giao nhận trước với nhau nhưng lại không sử dụng từ “đặt cọc”, thậm chí sử dụng các từ cầm cố, ký quỹ đồng thời thỏa thuận rõ nội dung là để bảo đảm việc giao kết và thực hiện hợp đồng. Nếu thỏa thuận không ghi rõ biện pháp đặt cọc thì có thể không được thừa nhận đó là biện pháp đặt cọc, mà có thể bị xem là khoản tiền thanh toán trước hoặc khoản tiền cầm cố, ký quỹ. Pháp luật quy định, trường hợp một bên trong hợp đồng giao cho bên kia một khoản tiền mà các bên không xác định rõ là tiền đặt cọc hoặc tiền trả trước thì số tiền này được coi là tiền trả trước

Trong 9 biện pháp bảo đảm thì đặt cọc gần giông nhất với đặt cược trong trò chơi giải trí có thưởng. Cụ thể người đặt cược đặt một khoản tiền để tham gia dự đoán kết quả trong các sự kiện thể thao, giải trí. Nếu đoán sai thì mất tiền đặt cược giống như vi phạm nghĩa vụ trong đặt cọc. Nếu đoán đúng thì được trả thưởng (giống như người nhận đặt cọc trả lại tiền đặt cọc cộng với một số lần tiền đặt cọc nữa).

Việc bảo đảm cho nghĩa vụ giao kết hợp đồng rất dễ xảy ra mâu thuẫn, vì muốn giao kết được thành công hợp đồng thì các bên phải nhất trí được với nhau về mọi nội dung của hợp đồng. Nếu có một hoặc một số nội dung chủ yếu, thậm chỉ cả thứ yếu chưa thông nhất được thì không dễ gì quy kết bên nào vi phạm nghĩa vụ giao kết hợp đồng. Vì vậy, muốn tránh xảy ra tình huống vướng mắc này, tốt nhất là khi thỏa thuận đặt cọc cần kèm theo luôn dự thảo hợp đồng chính hoặc ít nhất cũng phải chốt được các điều khoản chủ yếu của hợp đồng chính trong văn bản thỏa thuận đặt cọc.

 

3. Quyền và nghĩa vụ của bên đặt cọc 

Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định bên đặt cọc có quyền, nghĩa vụ như sau:

Yêu cầu bên nhận đặt cọc ngừng việc khai thác, sử dụng hoặc xác lập giao dịch dân sự đốì với tài sản đặt cọc; thực hiện việc bảo quản, giữ gìn để tài sản đặt cọc không bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị;

Quy định về trao đổi, thay thê tài sản đặt cọc hoặc đưa tài sản đặt cọc tham gia giao dịch dân sự khác trong trường hợp được bên nhận đặt cọc đồng ý;

Quy định về thanh toán cho bên nhận đặt cọc chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản đặt cọc.

Chi phí hợp lý quy định tại điểm này là khoản chi thực tê cần thiết, hợp pháp tại thời điểm chi mà trong điều kiện bình thường bên nhận đặt cọc phải thanh toán để đảm bảo tài sản đặt cọc không bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;

Các việc thực hiện đăng ký quyền sở hữu tài sản hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật để bên nhận đặt cọc được sở hữu tài sản đặt cọc theo quy định tại Nghị định về quyền và nghĩa vụ của bên nhận đặt cọc;

Quyền và nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định. Xem thêm: Cách xử lý tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua đất qua ủy quyền?

 

4. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận đặt cọc 

Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định bên nhận đặt cọc có quyền, nghĩa vụ như sau:

Thứ nhất, yêu cầu bên đặt cọc chấm dứt việc trao đổi, thay thế hoặc xác lập giao dịch dân sự khác đối với tài sản đặt cọc khi chưa có sự đồng ý của bên nhận đặt cọc;

Thứ hai, sở hữu tài sản đặt cọc trong trường hợp bên đặt cọc vi phạm cam kết về giao kết, thực hiện hợp đồng;

Thứ ba, bảo quản, giữ gìn tài sản đặt cọc;

Thứ tư, không xốc lập giao dịch dân sự, khai thác, sử dụng tài sản đặt cọc khi chưa có sự đồng ý của bên đặt cọc;

Thứ năm, có các quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.

Đặc điểm của đặt cọc

Thứ nhất, đối tượng của đặt cọc là những vật có giá trị hoặc các vật có tính thanh toán cao. Đối tượng của đặt cọc là tiền thì vừa mang chức năng bảo đảm, vừa mang chức năng thanh toán. Vì vậy, việc đặt cọc phải được lập thành văn bản; trong đó phải xác định rõ số tiền đặt cọc, số tài sản đặt cọc,…

Thứ hai, trong biện pháp đặt cọc; tùy theo thỏa thuận mà bên này; hoặc bên kia là người đặt cọc. Bên đặt cọc là bên dùng tiền; hoặc vật có giá trị khác của mình giao cho bên kia giữ để bảo đảm việc giao kết; hoặc thực hiện hợp đồng. bên nhận tiền hoặc tài sản là bên nhận đặt cọc.

Thứ ba, mục đích của của biện pháp đặt cọc có thể là bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng; cũng có thể nhằm bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng; hoặc nhằm cả hai mục đích trên. Đây là điểm tạo ra sự khác biệt giữa biện pháp đặt cọc và các biện pháp bảo đảm khác. Thông thường các biện pháp bảo đảm khác chủ yếu bảo đảm cho việc thực hiện hợp đồng nhưng biện pháp đặt cọc được giao kết trước hợp đồng chính thức lại; nhằm mục đích bảo đảm cho việc giao kết hợp đồng, tránh sự bội tín trong giao kết hợp đồng.

 

5. Chủ thể và đối tượng của đặt cọc

Chủ thể của hợp đồng đặt cọc gồm hai bên: bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc. Tùy vào sự thỏa thuận của các bên mà mỗi bên có thể là bên đặt cọc; hoặc bên nhận đặt cọc. Nhưng thông thường thì bên nào nắm giữ phần tài sản có sẵn như bên có nhà để bán; cho thuê hay bên nào sẽ phải đầu tư công sức, tiền bạc; để thực hiện công biệc nhất định thì sẽ trở thành bên nhận đặt cọc.

- Đặt cọc là hợp đồng thực tế: Hay nói cách khác; hợp đồng đặt cọc chỉ phát sinh hiệu lực khi các bên đã chuyển giao cho nhau tài sản đặt cọc.

- Đối tượng của đặt cọc: Tài sản đặt cọc mang tính thanh toán cao. Nếu như tài sản cầm cố, thế chấp là bất kỳ tài sản nào đáp ứng được các yêu cầu luật định; thì tài sản đặt cọc chỉ giới hạn trong phạm vi hẹp gồm: tiền, kim khí quý, đá quý; hoặc các tài sản có giá trị khác. Như vậy, các tài sản như quyền tài sản, bất động sản không trở thành đối tượng của đặt cọc.

>> Tham khảo: Dịch vụ soạn đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc mới nhất