1.Khái niệm
Bảo đảm là gì ?
Bảo đảm là Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết.
Định đoạt là chiếm hữu và sử dụng chúng ta thấy rằng trong việc định đoạt số phận thực tế của vật đó, chủ sở hữu chỉ cần thông qua hành vi của mình tác động trực tiếp đến vật. Trong việc định đoạt về số phận pháp lí của chủ sở hữu cần phải thiết lập với chủ thể khác một quan hệ pháp luật dân sự. Đối với quyền định đoạt, pháp luật dân sự đã quy định: Người định đoạt tài sản phải là người có năng lực hành vi. Ta có thể hiểu như sau, người có quyền định đoạt đối với tài sản cần phải có đầy đủ tư cách chủ thể. Trong những trường hợp tài sản ít giá trị thì việc thực hiện quyền định đoạt có thể bằng phương thức đơn giản như: Thoả thuận miệng, chuyển giao ngay tài sản… nhưng trong những trường hợp pháp luật có quy định về trình tự thủ tục thì phải tuân theo những quy định cụ thể của pháp luật.
Quyền định đoạt về tài sản theo quy định của pháp luật được quy định cụ thể trong Bộ luật dân sự năm 2015. Theo đó, quyền định đoạt tại Điều 192 Bộ luật dân sự năm 2015 được quy định như sau: Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản.
Chủ sở hữu thực hiện quyền định đoạt biểu hiện ở hai khía cạnh: Định đoạt về số phận thực tế của các vật. Định đoạt về số phận thực tế của các vật (làm cho vật không còn trong thực tế nữa) như: tiêu dùng hết, huy bố, hoặc từ bỏ quyền sở hữu đối với vật. Trong việc định đoạt số phận thực tế của vật, chủ sở hữu chỉ cần bằng hành vi của mình tác động trực tiếp đến vật. Định đoạt về số phận pháp lý của vật
Định đoạt về số phận pháp lý của vật là việc làm chuyển giao quyền sở hữu đối với vật từ người này sang người khác. Thông thường định đoạt về số phận pháp lý của vật phải thông qua các giao dịch phù hợp với ý chí của chủ sở hữu như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế… thông qua việc định đoạt mà chủ sở hữu có thể tiêu dùng hết; chuyển quyền chiếm hữu tạm thời (trong hợp đồng gửi giữ); quyền chiếm hữu và quyền sử dụng tài sản trong một khoảng thời hạn (trong hợp đồng cho thuê, cho mượn) hoặc chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người khác bằng hợp đồng bán, đổi, cho…
Trong việc định đoạt về số phận pháp lý chủ sở hữu phải thiết lập với chủ thể khác một quan hệ pháp luật dân sự. Đối với hình thức định đoạt này, BLDS đã quy định: Người định đoạt tài sản phải là người có năng lực hành vi. Nghĩa là, người đó phải có đầy đủ tư cách chủ thể. Trong những trường hợp tài sàn ít giá trị (chủ yếu là động sản) việc thực hiện quyền định đoạt có thể bằng phương thức giản đơn: thỏa thuận miệng, chuyển giao ngay tài sản… nhưng trong những trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục, thì phải tuân theo những quy định đó
Việc một người thực hiện quyền định đoạt đối với vật sẽ làm chấm dứt hoặc thay đổi các quan hệ pháp luật liên quan đến vật đó.
Ví dụ: Tiêu dùng hết tài sản sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản đó. Khi bán một tài sản sẽ làm chấm dứt quyền sở hữu của người đã bán nhưng lại làm phát sinh quyền sở hữu về tài sản đó đến với người mua
2. Khái quát chung về bảo đảm và quyền định đoạt tài sản
Có hai loại quyền đối với tài sản nói chung, đối với vật nói riêng (còn gọi là vật quyền), đó là quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản.
Pháp luật về cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ và bảo lãnh bằng tài sản là một loại quyền cơ bản của chủ sở hữu tài sản. Tuy nhiên, theo giải thích của pháp luật, thì quyền bảo đảm không thuộc quyền nào trong số 3 quyền của chủ sở hữu. Cụ thể, quyền bảo đảm không phải là quyền chiếm hữu, vì không phải là việc “nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”; không phải là quyền sử dụng, vì không “khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản” và cũng không phải là quyền định đoạt, vì không “chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản”. Quyền bảo đảm cũng không phải là quyền khác đối với tài sản, vì đó lại là quyền của chủ thể trực tiếp nắm giữ, chi phốỉ tài sản thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác (Điều 192 về “Quyền định đoạt”, Bộ luật Dân sự năm 2015 và Khoản 1 Điều 159 về “Quyền khác đối với tài sản”, Bộ luật Dân sự năm 2015). Đây là sự khiếm khuyết trong lập pháp, khi giải thích các quyền của chủ sở hữu tài sản đã không bao quát được quyền bảo đảm, đồng thời cũng không quy định rõ quyền bảo đảm là một quyền của chủ sở hữu tài sản, mà chỉ quy định gián tiếp là bên bảo đảm phải có quyền sở hữu đối với tài sản bảo đảm. Điều đáng tiếc là quyền cầm cố, thế chấp nói riêng, quyền bảo đảm nói chung đã từng được đưa vào một số Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2015 với tư cách là vật quyền hay quyền của chủ sở hữu đối với tài sản.
Quyền bảo đảm là quyền gì của chủ sở hữu tài sản, nên khi chủ sở hữu ủy quyền cho người khác toàn quyền sử dụng và định đoạt tài sản thì có đồng nghĩa vổi việc được phép cầm cố, thế chấp hay không? Trên thực tế, văn bản ủy quyền chỉ ghi ủy quyền đối với quyền sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) là chưa đủ, mà thường phải ghi rõ là ủy quyền cầm cố, thế chấp tài sản.
Tóm lại, có thể coi quyền bảo đảm bằng tài sản là một dạng quyền định đoạt tài sản có điều kiện. Và điều kiện trong trường hợp này là khi phải xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm. Nghĩa là, chủ sở hữu tài sản chấp nhận, nếu xuất hiện sự vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận bảo đảm thì tài sản sẽ được định đoạt. Hay nói cách khác, khi đã sử dụng tài sản vào giao dịch bảo đảm thì chủ sở hữu tài sản sẽ bị rơi vào trạng thái có thể mất quyền sở hữu (đối với 3 biện pháp đặt cọc, ký cược, ký quỹ) hoặc buộc phải xử lý quyền sở hữu tài sản để thực hiện nghĩa vụ thanh toán (đối với 2 biện pháp cầm cố, thế chấp) vào bất kỳ lúc nào.
Phía Toà án nhân dân tối cao cũng đã nhận định “phải xem thế chấp tài sản là một giao dịch chuyển giao tài sản có điều kiện”
Do vậy, Khẳng định điều trên là vấn đề rất quan trọng để bảo đảm việc xác định đúng quyền, nghĩa vụ của các chủ thể đối với giao dịch bảo đảm trong các trường hợp pháp luật chỉ quy định về quyền định đoạt tài sản mà không quy định cụ thể về quyền bảo đảm. Chẳng hạn, khi pháp luật quy định quyền định đoạt của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng; quyền định đoạt của bô mẹ đối với tài sản thuộc sở hữu riêng của con; quyền định đoạt của các thành viên hộ gia đình đối vói tài sản của hộ gia đình; quyền định đoạt của cổ đông, thành viên và người quản lý doanh nghiệp đốì với tài sản của doanh nghiệp; quyền định đoạt của các bên liên quan trong các giao dịch mua bán, vận chuyển hàng hoá, tài sản;
3. Điều kiện định đoạt
Pháp luật quy định cho cá nhân là chủ sở hữu hoặc không phải chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản, tuy nhiên cần phải đáp ứng những điều kiện nhất định về năng lực hành vi và các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Đối với định đoạt dưới góc độ thực tế của tài sản. các chủ thể có thể sư dụng các cách như tác động trực tiếp lên tài sản bằng cách tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản theo quy định. Tiêu dùng là việc chủ thể đưa tài sả vào sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu trong cuộc sống của các chủ thể. Tiêu hủy tài sản là việc chủ thể bằng một hành vi cụ thể làm cho tài sản không còn tồn tại theo các cách khác nhau để tài sản đó biến mất vĩnh viễn
Việc định đoạt dưới góc độ pháp lý của tài sản. Định đoạt dưới góc độ pháp lý được hiểu đó là việc chủ thể chuyển giao quyền sở hữu tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khácn theo quy định, hay việc từ bỏ tài sản làm phát sinh chủ thể có quyền mới đối với tài sản đó. Đối với Định đoạt dưới góc độ pháp lý là căn cứ làm chấm dứt quyền sở hữu của chủ thể đối với tài sản. Chủ thể thực hiện quyền thông qua các giao dịch dân sự phù hợp cụ thể như thừa kế, tặng cho, bán tài sản,…theo quy định của pháp luật
4.Điều kiện thực hiện quyền đinh đoạt
Pháp luật nước ta đưa ra quy định cho cá nhân là chủ sở hữu hoặc không phải chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản, tuy nhiên các chủ thể đó cần phải đáp ứng những điều kiện nhất định về năng lực hành vi và các trình tự, thủ tục do pháp luật Việt Nam quy định. trong các văn bản pháp luật.
– Điều kiện về năng lực hành vi: Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.
– Trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về định đoạt tài sản: Các chủ thể trong trường hợp pháp luật hiện hành có quy định về trình tự, thủ tục định đoạt thì cần phải tuân thủ theo trình tự, thủ tục đó.
5. Ai có quyền định đoạt tài sản
Pháp luật hiện hành, mà cụ thể là Bộ luật dân sự năm 2015 quy định cho cho chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản
Thứ nhất: Bộ luật dân sự năm 2015 quy định cho chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy, pháp luật đã trao quyền rất lớn cho chủ sở hữu khi thực hiện quyền định đoạt tài sản.
Thứ hai: Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu
Người không phải chủ sở hữu có quyền định đoạt tài sản sẽ có những hạn chế và trong những trường hợp nhất định.
“Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
Người được chủ sở hữu ủy quyền định đoạt tài sản phải thực hiện việc định đoạt phù hợp với ý chí, lợi ích của chủ sở hữu” ( Điều 198 Bộ luật dân sự năm 2015)
4. Những hạn chế của quyền định đoạt tài sản (Điều 196 Bộ luật dân sự năm 2015)
– Quyền định đoạt chỉ bị hạn chế trong trường hợp do pháp luật quy định
– Khi tài sản đem bán là di tích lịch sử, văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua.
Trong trường hợp pháp nhân, cá nhân, chủ thể khác có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.
Ví dụ: Chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty TNHH hai thành viên có những hạn chế sau:
“Trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 45 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:
1. Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;
2. Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán” ( Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2020).
hay dựa trên các quy định về ủy quyền định đoạt tài sản như tạo điều kiện thuận lợi cho chủ sở hữu khi định đoạt tài sản, BLDS 2015 dã quy đinh việc ủy quyền định đoạt. và đối với việc định đoạt này thì Chủ sở hữu có thể ủy quyền cho người khác định đoạt tài sản, và người được ủy quyền phải thực hiện việc định đoạt theo phương pháp, cách thức phù hợp với ý chí và lợi ích của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Tại Điều 196 BLDS 2015 còn quy định việc hạn chế quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu. Cụ thể đó là những trường hợp tài sản bị kê biên, hoặc các trường hợp mà tài sản đã được đem đi làm vật bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ. hay Nếu các quan hệ đặt cọc, thế chặp chấm dứt, quyết định kê biên tài sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền không còn hiệu lực, thì quyên đinh đoạt của chủ sở hữu được khôi phục và căn cứ dựa trên thực tế có những trường hợp tuy không phải là chủ sở hữu, và chủ sở hữu không uỷ quyền, đối với việc định đoạt có thể không theo ý chí của chủ sở hữu nhưng theo quy định pháp luật những người đó vẫn có quyền.
(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)