1. Khái niệm vận tải là gì ?
Vận tải là quá trình tác động lực vào các vật thể để dịch chuyển vật thể nào đó từ vị trí này đến vị trí khác. Vận tải gắn liền với nhu cầu sinh hoạt, sản xuất hàng ngày của con người.
Trước tiên, vận tải thường gắn liền với các hoạt động khuân, vác, gánh, nâng… của con người trong xã hội nguyên thủy. Sau này khi hình thái kinh tế trở nên phức tạp hơn thì các hình thức vận tải ngày càng được cải tiến và đa dạng hóa. Và theo thời gian, vận tải đơn thuần nay dần hình thành các dịch vụ vận tải.
Vận tải hiện nay là kết quả cuộc cách mạng khoa học công nghệ vận tải. Từ thập niên 60 – 70 của thế kỷ trước, vận tải (logistics) đã trở thành ngành kinh tế – kỹ thuật quan trọng, luôn gắn kết với giao thông vận tải trong sản xuất và lưu thông phân phối. Trên thế giới, không có bất kì quốc gia nào hoạt động mà không có sự phối hợp chặt chẽ với Bộ giao thông vận tải. Riêng đối với các nước đã phát triển, cơ sở hạ tầng phát triển và đã hoàn thiện từ lâu như: đường cao tốc, cảng biển, đường sắt, đường bộ, đường hàng không…
Vận tải là yếu tố cốt lõi tạo nên sự thành công của logistics. Vận tải hỗ trợ kết hợp những yếu tố tưởng chừng như không hề có sự liên kết nào với nhau lại trở thành những thứ bổ trợ cho nhau trong quy trình của chuỗi cung ứng. Theo khảo sát của các nhà nghiên cứu thống kê được, logistics có sự kết hợp chặt chẽ của vận tải sẽ mang lại doanh thu cao hơn 7-14% tùy vào mỗi ngành kinh doanh. Do đó, để đảm bảo chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả thì phải đảm bảo hệ thống vận tải được quản lý một cách chặt chẽ và tối ưu. Điều này đồng nghĩa với việc tất cả các thành viên trong chuỗi cung ứng đều phải có một tầm nhìn tuyệt đối với hình thức vận tải, hoạt động thương mại điện tử E-commerce.
2. Các loại hình vận tải hiện nay tại Việt Nam
Vận tải đường bộ
Là loại hình phổ biến nhất, được sử dụng hằng ngày để vận chuyển hàng hóa, hành khách, vật liệu, đồ gia dụng… Ưu điểm của vận tải hàng hóa bằng đường bộ là luôn chủ động về thời gian và đa dạng trong vận chuyển các loại hàng hóa.
Tuy nhiên, hình thức vận tải này bị hạn chế bởi khối lượng và kích thước hàng hóa. So với vận chuyển bằng đường thủy thì vận chuyển đường bộ không chở được những khối lượng hàng hóa lớn. Tuy nhiên, vận chuyển đường bộ vãn được xem là khá linh hoạt với những hàng hóa có khối lượng vận chuyển không quá lớn và nhỏ.
Mặc dù, chi phí vận tải bằng đường bộ được xem là cao hơn so với những loại hình vận chuyển khác nhưng chính nhờ việc linh động trong việc vận chuyển hàng hóa (chuyển hàng thẳng từ kho đến kho, từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ,…). Đặc biệt đây là loại hình vận chuyển có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết khác nhau, có thể đáp ứng được yêu cầu hàng hóa thị trường…
Vận tải đường sắt
Dịch vụ Vận tải hàng hóa Bắc – Nam là một trong những hình thức tiên phong trong dịch vụ vận chuyển. Có thể vận chuyển cả hành khách và hàng hóa, nhưng vận chuyển hàng hóa chưa được dùng nhiều ở Việt Nam. Vận chuyển đường sắt tương đổi an toàn, ổn định không bị tác động bởi ảnh hưởng thời tiết.
Vận tải đường thủy
Vận chuyển đường thủy là hình thức vận chuyển hàng hóa bằng các phương tiện di chuyển trên sông, biển như tàu, thuyền, … Vận chuyển đường thủy ra đời khá sớm. Các loại hàng chuyên chở trên tuyến đường dài nhưng không cần phải giao hàng nhanh chóng. Vận chuyển đường biển là hình thức chuyên chở hàng hóa chính trên Thế giới, chiếm 80% tổng khối lượng hàng chuyên chở nên thích hợp để vận chuyển hàng có khối lượng lớn. Vận chuyển hàng hóa bằng đường thuỷ luôn đảm bảo được các yếu tố mà khách hàng cần và nó không thua kém gì các phương thức vận chuyển khác. Vận chuyển bằng đường thủy được đánh giá là đứng ở vị trí số một trong chuyên chở hàng hóa trên thị trường thế giới.
Vận tải đường hàng không
Đối với các mặt hàng, hàng hóa, vật phẩm, bưu kiện yêu cầu có độ an toàn cao và vận chuyển đến nơi nhanh chóng thì vận chuyển hàng không là sự lựa chọn tốt nhất. Đây là loại hình vận chuyển có thời gian vận chuyển hành khách và hàng hóa nhanh chóng nhất hiện nay nên thích hợp với những hàng giá trị cao, khối lượng không quá lớn. Các công ty dịch vụ vận chuyển bằng đường hàng không hiện nay trên toàn Việt Nam đều có sự liên kết chặt chẽ với các tổng công ty hàng không lớn trong và ngoài nước như Vietnam airline, Vietjet air,… Singapore Airline, Japan (KIX), Korea (ICN)… và rất nhiều hãng hàng không chất lượng khác. Thường thì cước phí vận chuyển đường hàng không sẽ cao hơn các loại cước phí khác nhưng chúng có ưu điểm là rất nhanh chóng và an toàn vì thế chúng thường được rất nhiều khách hàng lựa chọn mặc dù cước phí vận cao hơn đôi chút.. Như vậy, với dịch vụ vận chuyển bằng đường hàng không, khách hàng sẽ luôn yên tâm về chất lượng món hàng và thời gian chuyển giao nhanh nhất.
Vận chuyển đường ống
Đây là loại hình vận chuyển đặc thù, chỉ phù hợp với những loại hàng đặc biệt như khí hóa lỏng, dầu khí… nhằm phục vụ cho đối tượng đặc biệt như công ty sản xuất hóa chất, công ty đa quốc gia, công ty Nhà nước.
3. Quy định chung về thế chấp phương tiện vận tải
Phương tiện giao thông vận tải bao gồm nhiều loại, gồm phương tiện đường bộ, đường sắt, đưòng sông, đường biển, hàng không, được phân thành hai nhóm chính là phương tiện giao thông vận tải cơ giới và phương tiện giao thông khác.
Tài sản thế chấp là các phương tiện giao thông vận tải gồm: phương tiện thủy nội địa (là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên đường thủy nội địa1); tàu hạy tàu hỏa (là phương tiện giao thông đường sắt được lập bỏi đầu máy và toa xe hoặc đầu máy chạy đơn, toa xe động lực, phương tiện động lực chuyên dùng di chuyển trên đường sắt); tàu bay (là thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác động tương hỗ với không khí, bao gồm máy bay, trực thăng, tàu lượn, khí cầu và các thiết bị bay khác, trừ thiết bị được nâng giữ trong khí quyển nhờ tác động tương hỗ với không khí phản lại từ bề mặt trái đất); xe máy, mô tô, ô tô; tàu biển (là phương tiện nổi di động chuyên dùng hoạt động trên biển, không bao gồm tàu quân sự, tàu công vụ, tàu cá, phương tiện thủy nội địa, tàu ngầm, tàu lặn, thủy phi cơ, kho chứa nổi, giàn di động,).
Phương tiện giao thông vận tải cơ giới được Nhà nước quản lý và cấp giấy đăng ký vì đó là nguồn nguy hiểm cao độ. Giấy đăng ký phương tiện giao thông vận tải là giấy chứng nhận lưu hành, không phải là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản vì không có quy định cũng như không thể hiện nội dung quyền sở hữu trên giấy. Tuy nhiên, trên thực tế, giấy đăng ký phương tiện giao thông vận tải có vai trò tương tự như giấy chứng nhận quyền sở hữu và là cơ sở để thực hiện giao dịch bảo đảm.
Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2011, các tổ chức tín dụng nhận thế chấp được giữ bản chính giấy đăng ký và chỉ cấp cho chủ sở hữu phương tiện bản sao .
Từ năm 2012 đến năm 2020, khi thế chấp các phương tiện giao thông vận tải trên thì bên thế chấp giữ bản chính các Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện giao thông trong thời hạn hợp đồng thế chấp có hiệu lực. Đồng thời, việc thế chấp còn phải thực hiện một số thủ tục liên quan đến các cơ quan đăng ký phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện thủy nội địa, phương tiện giao thông đường sắt.
Với thực trạng môi trường xã hội và pháp lý nếu bên nhận thế chấp ô tô không được giữ bản chính giấy đăng ký phương tiện giao thông vận tải thì sẽ là một rủi ro rất lớn. Tuy vẫn được pháp luật bảo vệ, nhưng bên nhận thế chấp xe ô tô phải đối mặt vổi rủi ro quá cao, vì tài sản thế chấp là phương tiện giao thông được di chuyển khắp nơi trên cả nước, thậm chí ra nước ngoài, nên không dễ gì theo dõi, quản lý. Đặc biệt là đôi vổi mô tô, xe máy thì trên thực tế gần như chĩ nhận cầm cố, mà không thể nhận thế chấp. Số" lượng mô tô, xe máy đang lưu hành được mua bán trao tay, không làm thủ tục sang tên, đổi chủ có thể lên đến vài chục phần trăm.
Ngay cả khi bên nhận thế chấp giữ bản chính giấy đăng ký phương tiện giao thông thì cũng vẫn rất khó khăn trong việc quản lý và xử lý tài sản bảo đảm. Việc kiểm soát phương tiện giao thông tuân thủ quy định về giấy đăng ký khi lưu hành trên thực tế còn rất hạn chế, cho nên xe ô tô vẫn cứ lưu hành được trong nhiều năm ngay cả khi không có bản chính cũng như bản sao (còn hiệu lực) giấy đăng ký xe do tổ chức tín dụng cấp theo quy định.
Xin nêu một vụ việc thực tế về việc này. Đó là thông báo “truy tìm” xe ô tô thế chấp đã được đăng tải trên một tờ báo giấy vào khoảng năm 2010 như sau: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển nhà thành phố H đang nhận thế chấp 2 chiếc xe ô tô, ghi rõ biển số, số khung, số máy và “hiện các tài sản nêu trên được chủ sở hữu mang đi cất giấu không cho Ngân hàng H biết thông tin tài sản. Nếu cá nhân, tổ chức nào biết được thông tin chính xác về các tài sản này, xin vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại 08.629ÕXXX. Chúng tôi xin cảm ơn và hậu tạ 50.000.000 đồng”.
Như vậy, mặc dù pháp luật đã xác định rõ một trong các quyền của bên nhận thế chấp là được yêu cầu, đồng thời cũng là nghĩa vụ của bên thê chấp là phải cung cấp “thông tin về thực trạng tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp”1 nhưng ngân hàng nhận thế chấp đã phải bỏ ra tới 50 triệu đồng chỉ để “mua” thông tin về 2 chiếc xe ô tô thế chấp đang ỗ đâu. Đặc biệt, trong trường hợp này, thì chủ xe chỉ giữ bản sao, còn ngân hàng nhận thế chấp giữ bản chính giấy đăng ký xe ô tô.
Sau khi có quy định về việc bên thế chấp giữ bản chính giấy đăng ký phương tiện vận tải vào năm 2012 thì nhiều tổ chức tín dụng đã từ chốỉ nhận thế chấp xe ô tô hoặc nếu nhận thế chấp thì vẫn yêu cầu bên thế chấp “phải tự nguyện” giao cho tổ chức tín dụng bản chính giấy đăng ký. Việc làm trái quy định của pháp luật này cũng là điều dễ hiểu, vì tổ chức tín dụng giữ bản chính giấy đăng ký xe ô tô, chiếc xe thế chấp được ví như con gà bị buộc vào chuồng mà vẫn còn không bắt được, thì liệu ai dám chấp nhận cuộc chơi thả gà ra mà đuổi? Khi bên nhận thế chấp không giữ giấy đăng ký xe ô tô thì bên thế chấp dễ dàng mang bán, gán nợ, cầm cố, thê chấp, dù tài sản đang được thế chấp hợp pháp.
Việc này đã làm cho các tổ chức tín dụng hạn chế việc nhận thế chấp phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, dẫn đến khó khăn cho giao dịch vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh. Còn khi nhận thế chấp phương tiện vận tải là ô tô, mô tô, xe máy chưa được bán cho người mua và chưa đăng ký lưu hành, thì vẫn chỉ là việc thế chấp hàng hóa và được mô tả theo số khung, số máy, giấy chứng nhận đăng kiểm.
Để giải quyết khó khăn, vướng mắc thực tế, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng hướng dẫn cho phép người lưu hành phương tiện giữ bản sao, các tổ chức tín dụng được giữ bản chính Giấy đăng ký phương tiện giao thông.
Tuy nhiên, việc tổ chức tín dụng giữ bản chính Giấy đăng ký phương tiện giao thông là không có căn cứ pháp lý (trái luật), nên Ngân hàng Nhà nưốc không ban hành Thông tư, mà chỉ ban hành Công văn số 7000/NHNN-PC hướng dẫn.
Từ tháng 5/2021 trỏ đi, pháp luật đã quy định quay trỗ lại như thời điểm năm 2006, bên bảo đảm được dùng bản sao Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện vận tải và bản chính văn bản xác nhận còn hiệu lực của bên nhận bảo đảm về việc giữ bản chính Giấy chứng nhận để sử dụng hoặc lưu hành tài sản. Một số văn bản khác cũng quy định tương tự, như việc giữ giấy tờ khi thế chấp phương tiện, thủy phi cơ.
Riêng việc giữ, sử dụng Giấy chứng nhận về tàu bay, tàu biển thực hiện theo quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam và Bộ luật Hàng hải Việt Nam.
Đối với tàu cá (là phương tiện thủy có lắp động cơ hoặc không lắp động cơ bao gồm tàu đánh bắt nguồn lợi thủy sản, tàu hậu cần đánh bắt nguồn lợi thủy sản theo Luật Thủy sản năm 20171), cũng đi lại và vận chuyển hàng hoá, thuyền viên như các phương tiện giao thông khác, thuộc sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (trước kia thuộc Bộ Thủy sản) nhưng lại không được xác định là phương tiện giao thông vận tải. Như vậy thì vấn đề đặt ra là, khi thế chấp tàu cá thì bên thế chấp hay bên nhận thế chấp giữ Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá? Luật Thủy sản năm 2017 quy định, trong quá trình hoạt động khai thác thủy sản phải mang theo bản chính hoặc bản sao chứng thực, Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá.
Ngoài ra, có sự không thống nhất trong việc quy định về biện pháp cầm cố và thế chấp các phương tiện giao thông vận tải, dù chúng đều có tính chất tương tự nhau như sau:
Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990 quy định cả hai biện pháp cầm cố và thế chấp tàu biển. Tuy nhiên, Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 và 2015 thì lại chỉ quy định biện pháp thế chấp tàu biển;
Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 thì quy định cả 2 biện pháp cầm cố, thê chấp tàu bay;
Luật Giao thông đường thủy nội địa1, Luật Đường sắt và Luật Giao thông đường bộ thì không có quy định về biện pháp cầm cố, thế chấp tàu sông, tàu hỏa và phương tiện giao thông đường bộ. Điều này có nghĩa là có thể được cầm cố hay thê chấp tuỳ thuộc vào việc thỏa thuận chuyển giao hay không chuyển giao tài sản bảo đảm. Như vậy, nhìn chung, phương tiện giao thông vận tải có thể sử dụng để cầm cố hoặc thê chấp, trừ đối vổĩ tàu biển thì chỉ có thể thế chấp.
Trường hợp bên nhận bảo đảm giao bản chính Giấy chứng nhận cho chủ thể trong giao dịch liên quan thì chủ thể đã nhận phải giao lại bản chính Giấy chứng nhận cho bên nhận bảo đảm ngay sau khi thực hiện xong thủ tục, nếu chậm hoặc không giao lại bản chính Giấy chứng nhận mà gây thiệt hại thì phải bồi thường .
4. Vai trò của vận tải
Hoạt động vận chuyển hàng hóa gắn liền và có vai trò thiết yếu với cuộc sống con người nhằm đáp ứng việc chuyên chở và vận chuyển hàng hóa. Nếu con người thường di chuyển bằng hình thức đường bộ, hàng không thì các mặt hàng tiêu dùng tại các chợ, siêu thị được vận chuyển bằng đường biển, đường bộ; nguyên vật liệu sản xuất chở từ vùng nguyên liệu đến nơi sản xuất bằng ô tô, tàu hỏa, tàu biển… Tất cả những hoạt động này đều liên quan đến vận tải.
Chính vì thế vận tải đóng vai trò trọng yếu của quá trình phân phối và lưu thông. Nếu nền kinh tế là một cơ thể sống, trong đó hệ thống giao thông là các huyết mạch thì vận chuyển là quá trình đưa các chất dinh dưỡng đến nuôi các tế bào của cơ thể sống.
5. Vai trò của vận chuyển đối với Logistics
Vai trò của vận tải đối với logistics ngày càng cao vì:
- Chi phí vận chuyển đang chiếm tỉ trọng ngày càng lớn trong hệ thống vận hành của logistics;
- Chi phí vận chuyển chịu ảnh hưởng lớn từ đa số các yếu tố thuộc doanh nghiệp như nhà cung cấp, kho hàng, địa điểm bán lẻ;
- Hệ thống vận chuyển tốc độ cao (tương đương với mức chi phí cao) sẽ kéo theo số lượng hàng tồn kho ít hơn;
- Hệ thống vận chuyển tốc độ chậm và rẻ hơn sẽ đáp ứng số lượng hàng tồn kho lớn hơn;
- Việc lựa chọn tốc độ của các phương thức vận chuyển sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lịch trình giao hàng.