1. Quy định chung về công ty cổ phần

Công ty cổ phần theo định nghĩa là công ty trong đó vốn chia thành cổ phần, được thành lập giữa những thành viên chịu trách nhiệm về nợ nần của công ty trong phạm vi góp vốn.

Công ty cổ phần là một công ty hợp vốn quy tụ các thành viên là những người có thể không quen biết nhau, họ tham gia thành lập công ty trên cơ sở số vốn mà họ đầu tư vào công cuộc kinh doanh.

Vốn công ty được chia thành cổ phần. So sánh với phần hùn trong các Công ty hợp danh và Công ty TNHH, cổ phần có lợi điểm là được tự do chuyển nhượng mà không cần có sự thoả thuận giữa các thành viên khác, cổ phiếu (chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu cổ phần) còn là một dụng cụ giao hoán râ't thuận tiện bởi vì nó có thể được chuyển nhượng dễ dàng. Công ty cổ phần có quyền huy động vốn trong công chúng bằng cách phát hành chứng khoán, đây là một ưu điểm của công ty khi cần một số vốn lớn để phát triển kinh doanh mà không phải vay ngân hàng. Thị trường chứng khoán tại một nước đang phát triển như Việt Nam là một yếu tô' quan trọng trong nền kinh tế, nó đòi hỏi phải có nhiều Công ty cổ phần đủ điều kiện để phát hành chứng khoán.trên thị trường theo Luật Chứng khoán.

Theo một nghiên cứu của chương trình phát triển kinh tế tư nhân (MPDF) thuộc Ngân hàng Thế giới (WB), tổng số doanh nghiệp đăng ký tại Việt Nam trong 4 năm từ năm 2000 đến năm 2003 là 83.490, trong đó Doanh nghiệp tư nhân là 27.865, Công ty TNHH là 46.652 và Công ty cổ phần là 8.635. Con số khiêm nhường các Công ty cổ phần chứng tỏ giới kinh doanh có ấn tượng rằng hình thức Công ty cổ phần dành cho các dự án đầu tư lớn, sử dụng một số vốn quan trọng. Nhưng có lẽ đây không phải là quan niệm của nhà làm luật vì Luật Doanh nghiệp hiện hành dự liệu chỉ cần ba người là có thể thành lập Công ty cổ phần, Luật cũng không ấn định một số vốn tối thiểu nào cả. Tuy nhiên, việc quản lý công ty này có phần phức tạp hơn việc quản lý Công ty TNHH hay Doanh nghiệp tư nhân, do đó chỉ những doanh nhân có kế hoạch làm ăn lớn mới lựa chọn hình thức này.

2. Khái niệm về vốn công ty cổ phần (CTCP)?

Vốn của doanh nghiệp nói chung là giá trị được tính bằng tiền của những tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp của doanh nghiệp, được sử dụng trong kinh doanh. Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, để tiến hành các hoạt động kinh doanh, CTCP phải có vốn. Là loại hình công ty đối vốn điển hình nên vấn đề vốn của CTCP là hết sức phức tạp, được tiếp cận dưới nhiều góc độ, dựa trên những tiêu chí khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, vốn của CTCP được chia thành: vốn chủ sở hữu (vốn tự có) và vốn tín dụng (vốn vay).

· Vốn chủ sở hữu:là nguồn vốn thuộc sở hữu của công ty, được hình thành từ nguồn đóng góp của cổ đông và vốn do CTCP tự bổ sung từ lợi nhuận của công ty.

· Vốn tín dụng: là nguồn vốn hình thành từ việc đi vay dưới các hình thức khác nhau: vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân khác hoặc vay bằng cách phát hành trái phiếu.

CTCP cần có tỉ lệ vốn hợp lí phương thức huy động vốn thích hợp, phương pháp kinh doanh đúng đắn để sử dụng vốn hiệu quả, tạo niềm tin cho đối tác của mình. Pháp luật về huy động vốn của công ty cổ phần: Các chủ thể kinh doanh thường mong muốn có nguồn vốn lớn để mở rộng và phát triển quy mô sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp thường có hai cách để huy động vốn, đó là: tăng vốn chủ sở hữu và tăng vốn vay. Theo Luật doanh nghiệp 2020 so với các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn,… thì CTCP khẳng định sự thuận lợi hơn trong mô hình kinh doanh của mình bằng quyền phát hành chứng khoán. Trong các loại chứng khoán đó, cổ phiếu là công cụ riêng của CTCP, nó đem đến ưu thế rất lớn nhờ khả năng thu hút vốn dễ dàng: có thể huy động được một nguồn vốn lớn do mở rộng đối tượng huy động; và cũng có thể giảm chi phí huy động vốn do được tiếp cận trực tiếp với người đầu tư;...

Ngoài ra, trong CTCP dưới góc độ pháp lí cần quan tâm đến khái niệm vốn Điều lệ, LDN 2020 quy định Vốn điều lệ công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán các loại. Vốn điều lệ của công ty cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp là tổng giá trị mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và được ghi trong Điều lệ công ty.

- Thay đổi vốn điều lệ.

Vốn điều lệ của công ty được coi là vật bảo đảm cho các chủ nợ. Vốn này được quy định trong Điều lệ cho nên không được thay đổi. Tuy nhiên, trên thực tế việc thay đổi vốn điều lệ vẫn xảy ra, thường công ty tăng vốn do quyết định của Đại hội đồng cổ đông, ít khi giảm vốn tuy nhiên cũng có thể xảy ra.

3. Tăng vốn.

Tăng vốn là một giải pháp phổ biến trong đời sống của Công ty cổ phần để củng cố nguồn tài chính của mình. Trước hết, công ty muốn có thêm tiền mặt: nếu hoạt động kinh doanh của công ty tiến triển tốt, các cổ đông không ngần ngại tham gia vào việc tăng vốn bằng cách góp thêm tiền vì họ có quyền ưu tiên mua cổ phần mới. Hoặc là công ty đang trong hoàn cảnh khó khăn muôn tìm một nhà đầu tư bên ngoài, người này chỉ chấp nhận đăng ký mua cổ phần mới nếu họ được sở hữu một phần quan trọng trong vốn của công ty hoặc được quyền kiểm soát công ty. Việc mời một người thứ ba vào công ty có nghĩa là các cổ đông cũ phải từ bỏ quyền ưu tiên mua cổ phần mới.

Việc tăng vốn cũng có thể được thực hiện bằng một sự góp vốn bằng hiện vật: một bất động sản, một bằng sáng chế... được góp vào sản nghiệp của công ty. Đổi lại, người đóng góp sẽ nhận được các cổ phần của công ty.

Đôi khi ngân hàng trước khi cho vay buộc rằng công ty phải nhập một phần quỹ dự trữ vào vốn của công ty để tăng cường vật bảo đảm của các chủ nỢ.

3.1. Tăng vốn bằng hiện kim (tiền).

Nếu công ty làm ăn khấm khá thì việc tìm người góp vốn thêm vào công ty không phải là điều khó khăn. Hành động tăng vốn củng cố cho uy tín của công ty, nhưng để làm vừa lòng các cổ đông công ty phải cố gắng duy trì chính sách chia cổ tức mặc dù số cổ đông tãng lên.

Nếu công ty đang gặp khó khăn thì khó có thể phát hành trái phiếu vì như thế sau đó sẽ phải trả tiền lãi hàng năm, trong khi công ty có thể mời thêm các cổ đông mới bằng cách đề nghị cho họ các cổ phần ưu đãi hoặc ngay cả cho họ quyền kiểm soát công ty.

Điều kiện để tăng vốn công ty là vốn hiện hữu của công ty phải đã được góp đầy đủ trước khi phát hành cổ phần mới. Thực vậy công ty phải yêu cầu các cổ đông góp đủ tiền mua các cổ phần mà họ đã đăng ký khi thành lập công ty, hoặc trong lần tăng vốn trước. Sau đó công ty mới có thể tiến hành một đợt tăng vốn khác.

Quyết định tăng vốn công ty thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông dù là tăng vốn bằng hiện kim hay bằng hiện vật, bởi vì tăng vốn đương nhiên phải sửa đổi Điều lệ, việc này thuộc thẩm quyền chuyên độc của Đại hội đồng cổ đông. Đại hội đồng cũng quyết định các loại cổ phần và tổng số cổ phần được chào bán của từng loại. Căn cứ vào quyết định của Đại hội đồng, Hội đồng quản trị tiến hành chào bán các cổ phần mới.

Cổ phần mới có thể được phát hành ngang mệnh giá cộng thêm một khoản phí phát hành. Phí phát hành có hai mục đích: một là nó bù đắp các chi phí của việc tăng vốn; hai là nó giúp cân bằng quyền lợi giữa cổ đông cũ và cổ đông mới, bù lại lợi ích mà cổ đông mới được hưởng trên các quỹ dự trữ đã được thành lập. Ví dụ:

Công ty có vốn là 1.000.000, chia thành 10.000 cổ phần giá 100, đã lập quỹ dự trữ với số tiền 500.000.

Giá lý thuyết của mỗi cổ phần trước khi tăng vốn là: (1.000.000 + 500.000): 10.000 = 150.

Nếu công ty tăng vốn thêm 1.000.000 bằng cách phát hành 10.000 cổ phần mới giá 100, giá lý thuyết của mỗi cổ phần sau khi tăng vốn là: (1.000.000 + 500.000 + 1.000.000) : (10.000 + 10.000) = 125

Kết quả này không thể chấp nhận được bởi vì cổ đông cũ mất ngay 25 mỗi cổ phần. Trong khi cổ đông mới được hưởng ngay khoản chênh lệch này.

Cộng thêm một khoản phí phát hành là 50 sẽ cho phép cân bằng quyền lợi cổ đông, bởi vì giá lý thuyết của mỗi cổ phần sau khi tăng vốn sẽ là:

[1.000.000 + 500.000 + 1.000.000 + (10.000 X 50)] : (10.000 + 10.000) = 150

Vì có khoản phí phát hành mà giá lý thuyết của mỗi cổ phần bằng nhau trước và sau tăng vốn.

Phí phát hành phải được thanh toán đầy đủ vào lúc đăng ký mua cổ phần. Đây là một khoản đóng góp thêm mà công ty có toàn quyền sử dụng. Thường khoản này được ghi vào một chương mục dự ttữ và Đại hội đồng có thể quyêt định đem phân chia cho các cổ đông.

Quyền ưu tiên đăng ký mua cổ phần mới cũng là một biện pháp để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông cũ của công ty. Mọi sự tăng vốn bằng hiện kim đều phải dành quyền ưu tiên mua cổ phần mới cho các cổ đông theo tỷ lệ sô cổ phần của họ. Ví dụ: công ty có vốn là 800.000 chia thành 8.000 cổ phiếu mệnh giá 100. Công ty quyết định tăng vốn thêm 400.000 bằng cách phát hành thêm 4.000 cổ phần giá 100. Mỗi cổ đông sẽ có quyền ưu tiên mua theo tỷ lệ cứ hai cổ phần cũ được mua một cổ phần mới.

Quyền ưu tiên này của các cổ đông được luật pháp bảo vệ, Điều lệ không thể bác bỏ quyền này, mọi điều khoản trái ngược của Điều lệ đều phải xem là không có. Quyền này cho phép cổ đông có thể duy trì một tỷ lệ vốn ttong công ty trưđc và sau khi tăng vốn, tức là giữ nguyên các quyền lợi của họ trong công ty. Tuy nhiên, cổ đông không bị bắt buộc phải mua cổ phần mới, có quyền không hành xử quyền ưu tiên của mình.

Chỉ những cổ đông nào đã thanh toán đầy đủ phần vốn góp của mình mới được quyền ưu tiên đăng ký mua cổ phần mới.

Cổ đông có một thời hạn do Hội đồng quản trị ấn định để hành xử quyền ưu tiên của mình. Trong thời hạn này cổ đông có thể nhượng một phần hoặc toàn bộ quyền ưu tiến của mình cho cổ đông khác. Trở lại ví dụ trên đây, quyền ưu tiến được hành xử theo tỷ lệ cứ hai cổ phần cũ được mua một cổ phần mới. cổ đông có 15 cổ phần có thể lựa chọn như sau:

• Bán đi một quyền, như vậy còn lại 14 quyền cho phép họ được mua 07 cổ phần mới.

• Mua thêm một quyền, như thế họ sẽ có 16 quyền cho phép họ mua 08 cổ phần mới.

Giá trị lý thuyết của quyền ưu tiên đăng ky'mua cổ phần mới là sự chênh lệch giá trị giữa cổ phần cũ và cổ phần mới sau khi tăng vốn: công ty có vốn là 800.000 chia thành 8.000 cổ phần giá 100, và có quỹ dự trữ 600.000. Giá trị lý thuyết của mỗi cổ phần là: (800.000 + 600.000): 8.000 = 175

Công ty quyết định tăng vốn thêm 400.000 bằng cách phát hành 4.000 cổ phần mới giá 100. Giá trị lý thuyết mỗi cổ phần sau khi tăng vốn là: (800.000 + 600.000 + 400.000): (8.000 + 4.000) = 150

Như vậy, giá trị lý thuyết của quyền ưu tiên đăng ký là: 175-150 = 25

Nếu giá cổ phần mới được cộng thêm phí phát hành thì giá trị của quyền ưu tiên sế giảm đi.

Quá thời hạn quy định cho việc hành xử quyền ưu tiên đăng ký, cổ đông nào không đăng ký coi như từ bỏ quyền ưu tiên, công ty có quyền bán cổ phần cho người ngoài công ty. Trước thời hạn đó cổ đông cũng có thể khước từ quyền ưu tiên bằng văn bản gửi cho công ty.

3.2. Tăng vốn bằng hiện vật.

Khi quyết định tăng vốn bằng hiện vật công ty thường không chú trọng nhiều đến việc gia tăng nguồn tài chính mà chủ yếu sáp nhập vào sản nghiệp của công ty một bất động sản, một bằng sáng chế hay một cửa hàng thương mại. Người đóng góp tài sản này ttở thành cổ đông.

Khác với trường hợp tăng vốn bằng hiện kim, không cần rằng vốn đã đăng ký phải đã được góp đủ. Thật vậy một tài sản có thể cần thiết ngay cho công ty mặc dù các cổ đông chưa được kêu gọi phải góp đủ vốn. Các cổ đông cũ cũng không có quyền ưu tiên bởi lẽ công ty cần có một tài sản mà chỉ riêng chủ sở hữu mới có thể cung câp.

Trên thực tế, trước khi tiến hành các thủ tục tăng vốn luật định, chủ tài sản và công ty ký kết với nhau một hợp đồng trong đó quy định về tài sản đóng góp, giá trị tài sản, sô cổ phần mới phải phát hành, các ưu đãi nếu có. Hợp đồng này sẽ phải được Đại hội đồng cổ đông phê chuẩn.

Cũng như trong giai đoạn thành lập công ty, tài sản phải được Hội đồng quản trị định giá. Nếu tài sản có đăng ký hoặc là quyền sử dụng đất thì người góp vốn phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản đó hoặc chuyển quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đốì với tài sản không đăng ký quyền sở hữu, việc góp vốn phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản. Việc góp vốn chỉ được coi là hoàn tất khi quyền sở hữu hợp pháp đối vơi tài sản đã chuyển sang công ty.

3.3. Tăng vốn bằng cách sáp nhập quỹ dự trữ.

Tăng vốn bằng hiện kim cho phép công ty có thêm tiền

để phát triển kinh doanh hoặc để trả nợ. Tăng vốn bằng hiện vật cho phép công ty thủ đắc một tài sản mới. Còn tăng vốn bằng cách sáp nhập các khoản dự ttữ không đem lại cho công ty các lợi ích vừa kể bởi vì thực tê chỉ là một vấn đề bút toán, chuyển tiền vào chương mục vốn từ chương mục dự trữ. Tuy nhiên, đây là một nghiệp vụ khá thông dụng và cũng có lợi không nhỏ. Thực vậy tăng vốn là tăng bảo đảm cho các chủ nỢ và như vậy làm tăng uy tín của công ty; ngân hàng thường buộc công ty phải làm như vậy trước khi cho vay. Bằng biện pháp này công ty có thể phân phát cổ phần cho nhân viên và cho họ tham gia vào kết quả, công việc kinh doanh của công ty.

Đôi với các cổ đông, việc tăng vốn được cụ thể hoá bằng sự phân phát miễn phí cổ phần theo tỷ lệ phần vốn góp của họ. Ví dụ: công ty có vốn là 400.000 chia thành 40.000 cổ phần 1000; công ty tăng vốn thêm 1.000.000 bằng cách phát hành thêm 10.000 cổ phần mới. Trong trường hợp này mỗi cổ đông có 04 cổ phần cũ sẽ được chia 01 cổ phần mơi.

Việc tăng vốn bằng cách sáp nhập dự trữ có thể được thực hiện mà không đòi hỏi điều kiện là vốn của công ty đã được góp đủ. Tất cả các quỹ dự trữ đều có thể được sáp nhập, quỹ dự trữ bắt buộc theo Điều lệ cũng như quỹ dự trữ nhiệm ý.

Nghiệp vụ này đưa đến hậu quả là phải sửa đổi Điều lệ, do đó phải do quyết định của Đại hội đồng cổ đông.

4. Giảm vốn.

Vốn của công ty là vật bảo đảm của các chủ nợ do đó không thể được hoàn lại cho cổ đông khi công ty còn đang hoạt động. Nhưng giảm vốn bằng cách sửa đổi Điều lệ có thể được Đại hội đồng cổ đông quyết định.

Thường công ty phải giảm vốn khi bị lỗ, như thế để cân bằng vốn với tích sản thực có của công ty. Giải pháp này cũng cho phép công ty được phân bổ cổ tức lại khi công ty làm ăn khâm khá hơn bởi vì vôn ít đi thì số tiền phải phân chia cho các cổ đông với danh nghĩa cổ tức cũng ít đi.

Việc giảm vốn có thể thực hiện bằng cách giảm mệnh giá cổ phần hoặc giảm số lượng cổ phần.

Giảm mệnh giá cổ phần chỉ có thể thực hiện được nếụ không xuống dưới giá tối thiểu do Điều lệ quy định, trừ khi phải thay đổi Điều lệ.

Giảm số lượng cổ phần có bất tiện là sẽ loại bỏ khỏi công ty những cổ đông nào không có đủ số cổ phần cũ để đổi lấy một cổ phần mới. Ví dụ: ba cổ phần cũ giá 100 được thay thế bằng một cổ phần mổi giá 100, cổ đông nào chỉ có hai cổ phần thì phải mua thêm một để có thể ở lại trong công ty. Người nào có bốn thì hoặc phải bán bớt đi một hoặc mua thêm hai, nếu không sẽ dư một cổ phần bỏ đi.

Việc giảm vốn điều lệ có thể được tiếp nôi bằng việc tăng vốn Điều lệ ttong trường hợp sau đây: công ty bị thua lỗ nặng nhưng may mắn lại tìm được một nhà đầu tư bằng lòng cứu nguy cho công ty. Công việc sẽ bắt đầu bằng việc giảm vốn sau đó nhà đầu tư rót tiền vào để tăng vốn trở lại.

Tài sản có thực của công ty giảm xuống dưới mức vốn điều lệ, giá thị trường của cổ phần thấp hơn mệnh giá. Do đó, phải giảm vốn bằng cách giảm mệnh giá cổ phần để cân bằng giá thị trường và mệnh giá. Sau đó công ty tăng vốn bằng hiện kim với sự góp vốn của nhà đầu tư chấp nhận cứu nguy công ty với điều kiện các cổ đông phải khước từ quyền ưu tiên đăng ký mua cổ phần mới.

5. Thủ tục thay đổi vốn điều lệ

Căn cứ Điều 44 Nghị định 78/2015/NĐ-CP và khoản 14 Điều 1 Nghị định 108/2018/NĐ-CP thì hồ sơ tăng, giảm vốn điều lệ công ty cổ phần được quy định cụ thể như sau:

5.1. Hồ sơ tăng vốn điều lệ

Trường hợp công ty cổ phần đã thông qua việc tăng vốn điều lệ bằng hình thức phát hành cổ phần và chào bán cho cổ đông thì hồ sơ đăng ký tăng vốn điều lệ gồm có:

  • Gửi thông báo đến nơi công ty đã đăng ký kinh doanh với nội dung theo quy định tại Khoản 14 Điều 1 Nghị định 108/2018/NĐ-CP.
  • Bản chính và bản sao hợp lệ quyết định của Đại hội cổ đông về việc phát hành cổ phần chào bán để tăng vốn Điều lệ. Nội dung phải ghi rõ về số lượng cổ phần chào bán và giao hội đồng quản trị thực hiện thủ tục đăng ký tăng vốn Điều lệ sau khi kết thúc mỗi đợt chào bán cổ phần,
  • Danh sách cổ đông sáng lập và cổ đông của công ty (sau khi tăng vốn)
  • Văn bản ủy quyền cho người đi nộp hồ sơ và nhận kết quả hoặc người đại diện theo pháp luật của công ty
  • Bản sao giấy chứng thực cá nhân của người được ủy quyền.
  • Bản chính và bản sao hợp lệ Quyết định của Hội đồng quản trị công ty cổ phần về việc đăng ký tăng vốn Điều lệ công ty sau khi kết thúc mỗi đợt chào bán.

Nếu công ty cổ phần chào bán cổ phần riêng lẻ để tăng vốn điều lệ thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định chào bán cổ phần riêng lẻ, công ty phải thông báo về việc chào bán cổ phần riêng lẻ với Cơ quan đăng ký kinh doanh, hồ sơ bao gồm:

  • Văn bản thông báo việc bán cổ phần bán lẻ với cơ quan đăng ký kinh doanh
  • Nghị quyết của đại hội cổ đông về hình thức chào bán cổ phần riêng lẻ để tăng vốn điều lệ cho công ty
  • Phương án chào bán cổ phần riêng lẻ đã được đại hội cổ đông thông qua (không bắt buộc).

5.2. Hồ sơ giảm vốn điều lệ

  • Thông báo về việc giảm vốn điều lệ của công ty cổ phần
  • Biên bản họp đại hội cổ đông về việc giảm vốn điều l
  • Quyết định của đại hội cổ đông về việc giảm vốn điều lệ
  • Danh sách các cổ đông
  • Thông báo lập sổ cổ đông
  • Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
  • Báo cáo tài chính gần nhất với thời điểm quyết định giảm vốn điều lệ.

Đối với việc giảm vốn điều lệ công ty, doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ, thuế và các nghĩa vụ tài sản khác sau khi giảm vốn.

- Trình tự thực hiện đăng ký thay đổi vốn điều lệ

Trình tự thay đổi vốn điều lệ công ty cổ phần gồm các bước sau:

Bước 1: Doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ theo quy định

Bước 2: Doanh nghiệp nộp hồ sơ bằng cách nộp trực tiếp tại Phòng đăng ký kinh doanh hoặc nộp hồ sơ online qua Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp

Bước 3: phòng đăng ký kinh doanh kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và giải quyết hồ sơ của doanh nghiệp

Bước 4: căn cứ giấy hạn trên giấy biên nhận, doanh nghiệp đến phòng Đăng ký kinh doanh để nhận kết quả.

Thời gian giải quyết: 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ.