1. Khái niệm làm thêm giờ

Làm thêm giờ là khoảng thời gian mà người lao động phải tiếp tục công việc ngoài những giờ làm việc chính thức của doanh nghiệp. Tình trạng này thường xảy ra khi công ty có nhu cầu cao hơn về sản phẩm hoặc dịch vụ, yêu cầu nhân viên phải làm việc thêm để đáp ứng kịp thời. Việc làm thêm giờ có thể được yêu cầu khi công ty cần hoàn thành các dự án gấp hoặc xử lý khối lượng công việc lớn hơn dự kiến.

 

2. Quy định chung về làm thêm giờ theo Luật lao động 2019

Hiện nay, quy định làm thêm giờ theo luật lao động mới nhất được đề cập tại Điều 107 Bộ luật Lao động 2019. Cụ thể như sau:

Thời gian làm thêm giờ

Thời gian làm thêm giờ là khoảng thời gian mà người lao động phải làm việc ngoài giờ làm việc chính thức đã được quy định bởi pháp luật, thỏa ước lao động tập thể, hoặc nội quy lao động của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là sau khi kết thúc các giờ làm việc theo lịch trình bình thường, nếu có yêu cầu làm việc thêm từ phía công ty, người lao động sẽ phải tiếp tục công việc trong thời gian bổ sung. Việc làm thêm giờ thường được thực hiện để đáp ứng nhu cầu đột xuất của công việc hoặc để hoàn thành các nhiệm vụ cấp bách. Tuy nhiên, việc quy định thời gian làm thêm giờ và mức lương tương ứng phải tuân theo các quy định pháp luật và các thỏa thuận đã được thống nhất, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động.

Trường hợp được sử dụng người lao động làm thêm không quá 300 giờ/năm

Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ, nhưng tổng số giờ làm thêm không được vượt quá 300 giờ trong một năm, áp dụng cho một số ngành, nghề, và trường hợp cụ thể. Các ngành nghề bao gồm sản xuất và gia công xuất khẩu các sản phẩm dệt, may, da, giày, điện, điện tử, cũng như chế biến nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản. Ngoài ra, thời gian làm thêm cũng có thể được áp dụng trong các lĩnh vực sản xuất và cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu, và cấp, thoát nước. Thêm vào đó, việc làm thêm giờ có thể được yêu cầu khi cần giải quyết công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không đáp ứng kịp thời, hoặc trong các tình huống cấp bách không thể trì hoãn, chẳng hạn như do thời vụ, sự cố không lường trước, thiên tai, hoặc thiếu nguyên liệu. Các trường hợp khác cũng có thể được quy định bởi Chính phủ.

Theo quy định hiện hành, ngoài các trường hợp đã được nêu trong các điểm a, b, c, và d khoản 3 Điều 107 của Bộ luật Lao động 2019, có một số tình huống cụ thể cho phép tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm. Những trường hợp này bao gồm các tình huống cấp bách không thể trì hoãn do các yếu tố khách quan ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động công vụ trong các cơ quan, đơn vị nhà nước, ngoại trừ các trường hợp đã được quy định tại Điều 108 Bộ luật Lao động 2019. Thêm vào đó, việc làm thêm giờ cũng có thể áp dụng đối với các lĩnh vực cung ứng dịch vụ công, dịch vụ khám bệnh và chữa bệnh, cũng như dịch vụ giáo dục và giáo dục nghề nghiệp. Đặc biệt, trong các doanh nghiệp có thời giờ làm việc bình thường không vượt quá 44 giờ mỗi tuần, công việc trực tiếp sản xuất và kinh doanh cũng có thể được tổ chức làm thêm giờ trong giới hạn này. Khi thực hiện việc làm thêm giờ theo các quy định trên, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh. Vì vậy, vào năm 2023, số giờ làm thêm của người lao động không được vượt quá 40 giờ mỗi tháng và không quá 200 giờ mỗi năm, trừ một số trường hợp đặc biệt được phép làm thêm đến 300 giờ trong năm.

Giới hạn số giờ làm thêm

(1) Tổng số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày khi làm thêm vào ngày làm việc bình thường, trừ trường hợp quy định tại khoản (2) và (3).

(2) Trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày.

(3) Trường hợp làm việc không trọn thời gian quy định tại Điều 32 Bộ luật Lao động 2019 thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày.

(4) Tổng số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong một ngày, khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết và ngày nghỉ hằng tuần.

(5) Thời giờ quy định tại các khoản 1 Điều 58 Nghị định này được giảm trừ khi tính tổng số giờ làm thêm trong tháng, trong năm để xác định việc tuân thủ quy định tại điểm b, điểm c khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019.

Thông báo về việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm

Khi tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm, người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tại các địa điểm sau: đầu tiên, là nơi tổ chức thực hiện việc làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm; thứ hai, là nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp, đặc biệt nếu trụ sở chính nằm trên địa bàn tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương khác với nơi tổ chức làm thêm giờ. Việc thông báo phải được thực hiện không muộn hơn 15 ngày kể từ ngày bắt đầu tổ chức làm thêm giờ trong phạm vi trên. Văn bản thông báo cần phải tuân theo mẫu quy định tại Mẫu số 02/PLIV Phụ lục IV, được ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Cách tính tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm

Theo Điều 98 của Bộ luật Lao động 2019, việc tính tiền lương cho người lao động làm thêm giờ được hướng dẫn như sau: Đối với người lao động làm thêm giờ, lương sẽ được tính dựa trên đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc đang làm, với các mức như sau: vào ngày thường, tiền lương làm thêm giờ phải ít nhất bằng 150% mức lương cơ bản; vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%; và vào ngày nghỉ lễ, tết, hoặc các ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% mức lương cơ bản. Lưu ý rằng mức lương này chưa bao gồm tiền lương của ngày lễ, tết, hoặc ngày nghỉ có hưởng lương mà người lao động nhận được nếu được hưởng lương theo ngày.

Nếu người lao động làm việc vào ban đêm, họ sẽ được trả thêm ít nhất 30% tiền lương so với đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả của công việc vào ban ngày. Đặc biệt, nếu người lao động làm thêm giờ vào ban đêm, bên cạnh việc trả lương theo các quy định trên, người lao động còn được hưởng thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương của công việc vào ban ngày, trong cả các ngày làm việc bình thường, ngày nghỉ hằng tuần, hoặc ngày nghỉ lễ, tết. Như vậy, tiền lương làm thêm giờ của người lao động được tính theo các hướng dẫn cụ thể nêu trên, nhằm đảm bảo quyền lợi công bằng cho người lao động trong các trường hợp làm việc ngoài giờ.

 

3. Điều kiện để người lao động được làm thêm giờ

Người sử dụng lao động chỉ được phép sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quy định. Trước tiên, việc làm thêm giờ phải được sự đồng ý của người lao động. Theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP, ngoài các trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 108 Bộ luật Lao động 2019, trong các trường hợp khác, khi tổ chức làm thêm giờ, người sử dụng lao động cần phải có sự đồng ý rõ ràng của người lao động về các nội dung cụ thể như thời gian làm thêm, địa điểm làm thêm, và công việc làm thêm. Nếu sự đồng ý của người lao động được lập thành văn bản riêng, cần tham khảo Mẫu số 01/PLIV trong Phụ lục IV ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP để đảm bảo sự đồng ý này được thực hiện đúng quy định và có giá trị pháp lý.

 

Xem thêm bài viết: Danh mục nghề, công việc người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi được làm thêm giờ

Khi quý khách có thắc mắc về quy định pháp luật, vui lòng liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn.