1. Lập ban cán sự đảng trong cơ quan hành pháp, tư pháp

Việc lập ban cán sự đảng trong cơ quan hành pháp, tư pháp được quy định tại Mục 30 Quy định 29-QĐ/TW năm 2016 thi hành Điều lệ Đảng do Ban Chấp hành Trung ương ban hành, cụ thể như sau:

- Ở cấp Trung ương: Lập Ban cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng bộ, ngành quản lý nhà nước, các cơ quan tư pháp.

- Ở cấp tỉnh: Lập ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân và ban cán sự đảng cơ quan tư pháp tỉnh.

Tổ chức và nhân sự của đảng đoàn, ban cán sự đảng ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy trình ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy quyết định. Ở Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định.

Ngoài các quy định trên đây, nơi nào cần lập đảng đoàn, ban cán sự đảng thì giao Ban Tổ chức Trung ương nghiên cứu, trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định.

 

2. Lập đảng đoàn trong cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội

Việc lập đảng đoàn trong cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội được quy định tại Mục 29 Quy định 29-QĐ/TW năm 2016 thi hành Điều lệ Đảng do Ban Chấp hành Trung ương ban hành, cụ thể như sau:

- Ở cấp Trung ương: Lập Đảng đoàn Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Đảng đoàn Quốc hội lập tổ đảng ở Thường trực Hội đồng Dân tộc, thường trực các ủy ban của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội (hoạt động tại các kỳ họp của Quốc hội).

Đối với các tổ chức hội quần chúng: Lập đảng đoàn ở các Liên hiệp Hội: Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam... Một số hội chính trị - xã hội có quy mô lớn, có vị trí quan trọng được lập đảng đoàn theo quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

- Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Lập đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh, ủy ban mặt trận tổ quốc tỉnh và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh: hội liên hiệp phụ nữ, liên đoàn lao động, hội cựu chiến binh, hội nông dân, liên hiệp các hội văn học nghệ thuật, liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật.

 

3. Một số vấn về lập đảng đoàn và ban cán sự đảng

Có một số Kiến nghị, đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng, những quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng về đảng đoàn, ban cán sự đảng

Đảng đoàn, ban cán sự đảng do cấp ủy cùng cấp lập ra trong một số cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội (trước đây còn được lập ở một số đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước trọng yếu) để thực hiện sự lãnh đạo của đảng đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức đó. Đây là một trong những phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Việc thành lập đảng đoàn, ban cán sự đảng luôn được Đảng ta quan tâm, quy định trong Điều lệ Đảng, ngay từ khi thành lập Đảng. Trải qua quá trình lịch sử, đảng đoàn cơ bản được giữ ổn định; ban cán sự đảng nhiều lần thay đổi, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng nước ta. Hiện nay, ở cấp Trung ương còn 16 đảng đoàn, 24 ban cán sự đảng ở Trung ương; 510 đảng đoàn và 189 ban cán sự đảng trong một số cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội ở cấp tỉnh. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác đảng đoàn, ban cán sự đảng thực hiện theo Điều lệ Đảng (Điều 42, 43), quy định của BCH Trung ương, Bộ Chính trị và quy chế làm việc của từng tổ chức.

Ở Trung ương: Đảng đoàn, ban cán sự đảng do Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành lập và chỉ định nhân sự; được thành lập văn phòng và có biên chế chuyên trách thực hiện công tác tham mưu, giúp việc.

Đảng đoàn được lập ở: Quốc hội, gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; thành viên khác (nếu có); đồng chí Chủ tịch Quốc hội làm Bí thư Đảng đoàn, 1 đồng chí Phó Chủ tịch Quốc hội làm Phó Bí thư Đảng đoàn. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các đoàn thể chính trị - xã hội (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam) và một số hội quần chúng ở Trung ương do Ban Bí thư thành lập, gồm: Các cán bộ lãnh đạo chủ chốt (là đảng viên) của tổ chức đó và trưởng ban tổ chức - cán bộ; đồng chí Chủ tịch làm Bí thư Đảng đoàn, 1 đồng chí Phó Chủ tịch làm Phó Bí thư Đảng đoàn.

Ban cán sự đảng được lập ở: Chính phủ do Bộ Chính trị thành lập, có 10 thành viên, gồm: Thủ tướng, 5 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an; thành viên khác (nếu có); đồng chí Thủ tướng Chính phủ làm Bí thư Ban cán sự đảng, 1 đồng chí Phó Thủ tướng làm Phó Bí thư Ban cán sự đảng. Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước do Ban Bí thư thành lập, cơ cấu gồm Bộ trưởng (hoặc người đứng đầu ngành), các thứ trưởng (hoặc cấp phó của người đứng đầu), vụ trưởng vụ tổ chức - cán bộ; các thành viên khác (nếu có); đồng chí bộ trưởng hoặc người đứng đầu ngành làm bí thư ban cán sự đảng, 1 đồng chí thứ trưởng hoặc cấp phó của người đứng đầu làm phó bí thư ban cán sự đảng. Số lượng thường từ 5 đến 8 thành viên. Tòa án Nhân dân Tối cao do Ban Bí thư thành lập, gồm: Chánh án, các Phó Chánh án, Vụ trưởng Vụ Tổ chức - cán bộ; thành viên khác (nếu có). Đồng chí Chánh án làm Bí thư Ban cán sự đảng, 1 đồng chí Phó Chánh án làm Phó Bí thư Ban cán sự đảng. Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao do Ban Bí thư thành lập, gồm: Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, Vụ trưởng Vụ Tổ chức - cán bộ; thành viên khác (nếu có); đồng chí Viện trưởng làm Bí thư Ban cán sự đảng, 1 đồng chí Phó Viện trưởng làm Phó Bí thư Ban cán sự đảng.

Ở cấp tỉnh: Đảng đoàn, ban cán sự đảng do ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy lập và chỉ định nhân sự. Đảng đoàn được lập ở: Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và một số tổ chức hội cấp tỉnh. Ban cán sự đảng được lập ở: Ủy ban nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân cấp tỉnh. Các thành phần tham gia đảng đoàn, ban cán sự đảng ở các tỉnh, thành phố tương tự như ở Trung ương. Đảng đoàn, ban cán sự đảng ở cấp tỉnh không có văn phòng, cán bộ chuyên trách thực hiện công tác tham mưu, giúp việc.

Nhìn chung, việc thành lập tổ chức đảng đoàn, ban cán sự đảng trong một số cơ quan, đơn vị, tổ chức của hệ thống chính trị và cơ cấu nhân sự cơ bản đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của từng tổ chức trong mỗi giai đoạn cách mạng. Các đảng đoàn, ban cán sự đảng đã lãnh đạo cơ quan, đơn vị, tổ chức thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức - cán bộ; quyết định những chủ trương lớn của ngành, địa phương, tổ chức; bảo đảm thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động, góp phần bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội và tính thống nhất trong hệ thống chính trị.


Tuy nhiên, việc quy định một số nội dung về đảng đoàn, ban cán sự đảng còn chưa bao quát hết các tình huống hoặc có nội dung chưa thật sự rõ cần nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng cho phù hợp với thực tiễn hiện nay; cụ thể

- Đảng đoàn, ban cán sự đảng do cấp ủy cùng cấp lập; lãnh đạo, thuyết phục các thành viên trong tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng. Do đó, cần nghiên cứu để bổ sung vào Khoản 1, Điều 9 của Điều lệ Đảng quy định về cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng cụm từ “trừ một số trường hợp do cấp có thẩm quyền chỉ định” để quy định đầy đủ hơn và viết lại là: “Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử dân chủ lập ra, trừ một số trường hợp do cấp có thẩm quyền chỉ định, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”.

- Về thực hiện chức năng lãnh đạo ở một số tổ chức hội quần chúng:

Hiện nay, một số tổ chức hội quần chúng, cấp ủy lập đảng đoàn. Do đó, đề nghị nghiên cứu để bổ sung cụm từ: “một số tổ chức hội quần chúng” vào Khoản 1, Điều 42 và viết lại là: “Trong cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội, một số tổ chức hội quần chúng cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, do bầu cử lập ra, cấp uỷ cùng cấp lập đảng đoàn... ”.

- Về thực hiện chức năng lãnh đạo công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng: - Đề nghị bổ sung cụm từ “chính sách, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội” vào Khoản 3, Điều 42 và viết lại là: “Đảng đoàn lãnh đạo…; lãnh đạo công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Điều lệ mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội”.

Đề nghị bổ sung cụm từ “chính sách, pháp luật của Nhà nước” vào Khoản 3, Điều 43 và viết lại là: "Ban cán sự đảng…; lãnh đạo công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước".

 

4. Tổ chức của Ban Cán sự đảng ở các cơ quan ngang bộ

- Ban Cán sự đảng có từ 5 đến 7 ủy viên, gồm các đồng chí đảng viên là bộ trưởng, thứ trưởng, bí thư đảng ủy cơ quan, vụ trưởng vụ tổ chức cán bộ, chủ tịch công đoàn ngành (nếu có).

- Bí thư, phó bí thư và các ủy viên ban cán sự đảng do Bộ chính trị chỉ định.

- Ban Cán sự đảng chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ chính trị, Ban Bí thư.

- Ban Cán sự đảng có con dấu.

 

5. Chế độ làm việc của đảng đoàn và ban cán sự đảng ở TW

- Đảng đoàn, ban cán sự đảng họp định kỳ 3 tháng một lần, họp chuyên đề và đột xuất theo yêu cầu nhiệm vụ. Các văn bản của cuộc họp được gửi trước đến các ủy viên. Nội dung các cuộc họp phải ghi biên bản, có kết luận và nếu cần ra nghị quyết để thực hiện.

- Bí thư đảng đoàn, ban cán sự đảng điều hành công việc chung, phân công nhiệm vụ cho các thành viên, chủ trì các phiên họp của đảng đoàn, ban cán sự đảng, trực tiếp báo cáo hoặc ký các văn bản báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Khi có yêu cầu đột xuất, nếu bí thư vắng mặt, thì phó bí thư hoặc một ủy viên (nơi không có phó bí thư) được ủy quyền chủ trì phiên họp và ký văn bản báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

- Đồng chí phó bí thư (nếu có) hoặc một ủy viên được phân công giải quyết công việc thường xuyên, trực tiếp phụ trách văn phòng đảng đoàn, ban cán sự đảng. Các ủy viên khác thực hiện nhiệm vụ được phân công và có trách nhiệm tham gia đầy đủ các kỳ sinh hoạt của đảng đoàn, ban cán sự đảng.

- Định kỳ hằng năm hoặc khi có yêu cầu, đảng đoàn, ban cán sự đảng báo cáo Ban Bí thư về tình hình và kết quả thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, cán bộ theo thẩm quyền quản lý của đảng đoàn, ban cán sự đảng.

- Sau mỗi kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bí thư đảng đoàn, ban cán sự đảng là Ủy viên Trung ương Đảng (hoặc được mời dự họp Trung ương) có trách nhiệm truyền đạt nhanh những nội dung cơ bản của nghị quyết Trung ương đến cán bộ chủ chốt trong cơ quan, đơn vị; chỉ đạo việc triển khai kế hoạch thực hiện các nội dung trong nghị quyết liên quan đến cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!