Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật đất đai 2013
Quyết định 745/2014/QĐ-UBND về hạn mức đất giao làm nhà ở; hạn mức công nhận đất ở đối với thửa đất ở có vườn, ao và diện tích đất ở tối thiểu được tách thửa áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Quyết định 22/2019/QĐ-UBND quy định về hạn mức giao đất, công nhận quyền sử dụng đất; diện tích đất tối thiểu được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Đắk Nông

2. Luật sư tư vấn:

2.1 Hạn mức công nhận đất ở tỉnh bắc giang là như thế nào?

Hạn mức đất giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở
Đất ở đô thị thuộc tổ dân phố của các phường và các vị trí ven trục đường chính đã được đặt tên của thị trấn: không quá 100 m2.
Đất ở nông thôn trong quy hoạch đô thị đã được phê duyệt và đất ở ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ; khu công nghiệp, khu du lịch: không quá 120 m2.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

Đất ở đô thị, đất ở nông thôn không thuộc quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này:
Các xã, phường thuộc thành phố Bắc Giang; xã trung du và thị trấn thuộc các huyện: không quá 300 m2;
Xã miền núi thuộc các huyện: không quá 360 m2.
Hạn mức đất giao cho mỗi hộ gia đình, cá nhân để làm nhà ở quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều này chỉ áp dụng khi nhà nước giao đất ở mới (trường hợp không phải đấu giá quyền sử dụng đất).
Hạn mức công nhận đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đang có nhà ở
Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đang có nhà ở được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai mà trên giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì toàn bộ diện tích đất đó được xác định là đất ở; trường hợp trong các loại giấy tờ đó chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 3 quy định này nhưng không vượt quá diện tích thửa đất mà hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng.
Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đang có nhà ở được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 43/2014/NĐ-CP) mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì hạn mức công nhận đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân được xác định như sau:
Hộ gia đình có từ 01 đến 04 nhân khẩu hiện đang sinh sống trên thửa đất thì hạn mức để xét công nhận đất ở bằng hai (02) lần hạn mức giao đất ở tương ứng với từng vùng, khu vực quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 3 Quy định này, nhưng tổng diện tích không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình đang sử dụng;
Hộ gia đình có từ 05 đến 07 nhân khẩu hiện đang sinh sống trên thửa đất thì hạn mức để xét công nhận đất ở bằng ba (03) lần hạn mức giao đất ở tương ứng với từng vùng, khu vực quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 3 Quy định này, nhưng tối đa là 800 m2 và không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình đang sử dụng;
Hộ gia đình có từ 08 nhân khẩu trở lên hiện đang sinh sống trên thửa đất thì hạn mức để xét công nhận đất ở bằng bốn (04) lần hạn mức giao đất ở tương ứng với từng vùng, khu vực quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 3 Quy định này, nhưng tối đa là 800 m2 và không vượt quá diện tích đất mà hộ gia đình đang sử dụng.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn thủ tục mua bán, chuyển nhượng đất đai, nhà ở

Nhân khẩu để xem xét công nhận diện tích đất vườn, ao là đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao là số nhân khẩu thực tế đang ở trên thửa đất đó có trong các sổ hộ khẩu trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, bao gồm những người có quan hệ là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con đẻ và con nuôi theo quy định của pháp luật, cháu có quan hệ trực hệ.
Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đang có nhà ở mà người đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP nhưng đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo hạn mức công nhận quy định tại Điểm a, b và c khoản 2 Điều này.
Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đang có nhà ở mà người đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP nhưng đất đã sử dụng ổn định kể từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo hạn mức giao đất làm nhà ở tương ứng với từng vùng, khu vực quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 3 Quy định này.
Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 của Điều này được xác định theo hiện trạng sử dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật Đất đai.
Việc thu tiền sử dụng đất đối với các trường hợp công nhận quyền sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo Quy định này được thực hiện quy định hiện hành.
Tỷ lệ diện tích được xây dựng nhà ở
Tỷ lệ diện tích được xây dựng nhà ở phải đảm bảo quy chuẩn về xây dựng và được cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng cấp phép, cụ thể như sau:
Tỷ lệ xây dựng nhà ở được quy định trong mục 2.8.6 tại Quy chuẩn xây dựng Việt Nam quy hoạch xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 04/2008/QĐ-BXD ngày 03/4/2008 của Bộ Xây dựng: Mật độ xây dựng thuần (net-tô) tối đa của lô đất xây dựng nhà ở liên kế và nhà ở riêng lẻ (nhà vườn, biệt thự,..).
Diện tích lô đất (m2/căn nhà) 200 300 500 ≥ 1.000
Mật độ xây dựng tối đa (%) 70 60 50 40

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn xin cấp sổ đỏ (sổ hồng), sang tên nhà đất

Tỷ lệ xây dựng nhà ở quy định tại khoản 1 Điều này chỉ áp dụng đối với những thửa đất để xây dựng nhà biệt thự hoặc xây dựng nhà ở trên thửa đất có vườn, ao thuộc khu đô thị và khu vực quy hoạch dự kiến phát triển đô thị.
Xử lý một số trường hợp cụ thể sau khi Quyết định này có hiệu lực thi hành
Trường hợp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng mà người có đất Nhà nước thu hồi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì điện tích đất ở được xem xét xác định lại theo quy định tại khoản 5 Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP .
Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở có vườn, ao có các điều kiện như quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 4 Quy định này mà có nhu cầu điều chỉnh về diện tích đất ở làm đơn gửi Ủy ban nhân dân cấp xã (kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp). Trong thời hạn không quá mười (10) ngày làm việc Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm: thẩm tra, xác nhận vào đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất về nguồn gốc, thời điểm, hiện trạng sử dụng đất; gửi hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sau khi hộ gia đình, cá nhân hoàn thành nghĩa vụ tài chính (nếu có) theo quy định.
Đối với trường hợp đã xác định diện tích đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở mà thửa đất đó Nhà nước đã thu hồi và thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã gửi văn bản thông báo trả tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo phương án đã được phê duyệt đến các hộ gia đình, cá nhân trước khi Quyết định này có hiệu lực thì thực hiện theo phương án đã phê duyệt, không áp dụng điều chỉnh lại theo Quyết định này.
Đối với những thửa đất ở có vườn, ao đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và đã nộp tiền phần diện tích vượt hạn mức khi làm thủ tục công nhận quyền sử dụng đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất trước ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành thì không được hoàn trả số tiền đã nộp khi xác định lại hạn mức công nhận theo Quy định này.
Việc áp dụng quy định về hạn mức đất ở để xác định diện tích đất ở theo Quy định này được thực hiện tại thời điểm người sử dụng đất nộp hồ sơ đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp lệ.

2.2 Hạn mức công nhận đất ở tỉnh Đắk Nông là như thế nào?

Hạn mức giao đất ở, đất chưa sử dụng để sản xuất nông nghiệp
Hạn mức giao đất ở cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không được vượt quá diện tích cho từng khu vực sau đây:

>> Xem thêm:  Có được phép xây dựng bể bơi trên đất ao không

Đất ở khu vực đô thị: 300m2.
Đất ở khu vực nông thôn: 400m2.
Hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng cho mỗi hộ gia đình, cá nhân đưa vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản như sau:
Đất để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản không quá 02 ha đối với mỗi loại đất.
Đất để trồng cây lâu năm không quá 30 ha.
Đất để trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất không quá 30 ha đối với mỗi loại đất.
Trường hợp đã giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, nay được giao thêm đất trồng cây lâu năm hoặc đất rừng sản xuất thì hạn mức giao thêm không quá 25 ha.
Hạn mức công nhận đất ở cho hộ gia đình đối với trường hợp đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở
Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và khoản 16 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì được xác định như sau:
Đối với khu vực nông thôn: Diện tích đất ở được công nhận bằng diện tích thực tế của thửa đất đang sử dụng đối với trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn 2.000 m2; bằng 2.000 m2 đối với trường hợp thửa đất đang sử dụng có diện tích từ 2.000 m2 trở lên.

>> Xem thêm:  So sánh các quy định của Bộ luật dân sự 2015 và Bộ luật dân sự 2005

Đối với khu vực đô thị: Diện tích đất ở được công nhận bằng diện tích thực tế của thửa đất đang sử dụng đối với trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn 1.500 m2; bằng 1.500 m2 đối với trường hợp thửa đất đang sử dụng có diện tích từ 1.500 m2 trở lên.
Hộ gia đình đang sử dụng thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và khoản 16 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định như sau:
Đối với khu vực nông thôn: Diện tích đất ở được công nhận bằng diện tích thực tế đang sử dụng nhưng không quá 400 m2 đối với hộ gia đình có từ 06 (sáu) nhân khẩu trở xuống; không quá 500 m2 đối với hộ gia đình có từ 07 (bảy) nhân khẩu trở lên.
Đối với khu vực đô thị: Diện tích đất ở được công nhận bằng diện tích thực tế đang sử dụng nhưng không quá 300 m2 đối với hộ gia đình có từ 6 nhân khẩu trở xuống; không quá 400 m2 đối với hộ gia đình có từ 7 nhân khẩu trở lên.
Số nhân khẩu để xác định hạn mức công nhận đất ở quy định tại điểm a, b khoản này là tổng số nhân khẩu của hộ gia đình cùng sử dụng đất theo quy định tại khoản 29, Điều 3 Luật Đất đai năm 2013.
Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 mà đất đã sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 thì diện tích đất ở được xác định theo Khoản 2 Điều này; Trường hợp sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì diện tích đất ở được xác định như sau:
Đối với khu vực nông thôn: Diện tích không quá 400 m2.
Đối với khu vực đô thị: Diện tích không quá 300 m2.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?