1. Khái quát về ngoại hối và quản lý ngoại hối
Mỗi quốc gia trong quá trình tồn tại và phát triển đều sử dụng đồng tiền và các phương tiện thanh toán riêng, được phát hành bởi quốc gia đó để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, buôn bán và thanh toán trong nội địa. Tuy nhiên, khi có sự phát triển của hoạt động giao thương giữa các quốc gia trong khu vực và trên toàn cầu, nhu cầu sử dụng các phương tiện thanh toán của quốc gia khác trong giao dịch quốc tế đã dẫn đến sự ra đời của khái niệm "ngoại hối".
Ở Việt Nam, khái niệm "ngoại hối" được định nghĩa lần đầu trong Nghị định số 102-CP năm 1963 về điều lệ quản lý ngoại hối của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đến năm 1988, trong Nghị định số 161-HĐBT năm 1988, khái niệm này cũng được quy định tương tự. Đến năm 1998, trong Nghị định số 63/1998/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý ngoại hối, khái niệm "ngoại hối" bắt đầu được mở rộng hơn. Hiện nay, theo quy định của Pháp lệnh ngoại hối năm 2005, sửa đổi và bổ sung vào năm 2013, ngoại hối bao gồm 05 đối tượng:
- Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và các đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (gọi là ngoại tệ).
- Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, bao gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác.
- Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác.
- Vàng thuộc dự trữ ngoại hối của Nhà nước, cũng như vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng.
- Đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các trường hợp chuyển vào và ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.
Việc quản lý ngoại hối của mỗi quốc gia là một phần quan trọng trong việc duy trì ổn định kinh tế và tài chính quốc gia, đồng thời cũng là một phần của chiến lược quản lý tiền tệ và thị trường tài chính. Tùy thuộc vào tổ chức bộ máy Nhà nước và mục tiêu quản lý của từng quốc gia, thẩm quyền quản lý nhà nước về ngoại hối có thể được phân bổ cho các cơ quan khác nhau.
Ở một số quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hồng Kông và Singapore, thẩm quyền quản lý nhà nước về ngoại hối thường thuộc về các cơ quan quản lý thị trường tài chính hoặc thị trường tiền tệ như Ủy ban giao dịch hàng hóa tương lai, Hiệp hội hàng hóa kỳ hạn quốc gia, Cơ quan quản lý tài chính, Cơ quan dịch vụ tài chính, Ủy ban chứng khoán và hợp đồng tương lai, Cơ quan quản lý tiền tệ.
Trong khi đó, ở Việt Nam, thẩm quyền quản lý nhà nước về ngoại hối và hoạt động ngoại hối được giao cho các cơ quan thuộc nhóm cơ quan hành pháp, trong đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là cơ quan chủ yếu và trực tiếp thực hiện nhiều nhiệm vụ liên quan đến ngoại hối. Cụ thể:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về ngoại hối.
- Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối cho các tổ chức và cá nhân.
- Thực hiện kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về ngoại hối.
- Quản lý và điều phối dự trữ ngoại hối của Nhà nước.
- Tiến hành mua, bán ngoại hối theo chính sách tiền tệ quốc gia để duy trì ổn định tài chính và tiền tệ.
Tóm lại, việc quản lý ngoại hối đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và tổ chức tài chính, với mục tiêu đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc gia.
2. Quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
Căn cứ theo quy định tại Điều 22 Pháp lệnh Ngoại hối 2005, được sửa đổi bởi khoản 13 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh ngoại hối 2013 quy định hạn chế sử dụng ngoại hối như sau:
- Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Theo đó, ngoại hối bị sử dụng hạn chế trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
3. Trường hợp nào người không cư trú được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam?
Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 32/2013/TT-NHNN, được bổ sung bởi Điều 1 Thông tư 03/2019/TT-NHNN quy định về trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam đối với người không cư trú như sau:
- Người cư trú, người không cư trú là tổ chức được thỏa thuận và trả lương, thưởng, phụ cấp trong hợp đồng lao động bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt cho người không cư trú và người cư trú là người nước ngoài làm việc cho chính tổ chức đó.
- Người không cư trú là cơ quan ngoại giao, cơ quan lãnh sự được niêm yết bằng ngoại tệ và thu phí thị thực xuất nhập cảnh, các loại phí, lệ phí khác bằng ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt.
- Người không cư trú thực hiện theo quy định sau:
+ Được chuyển khoản bằng ngoại tệ cho người không cư trú khác;
+ Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán tiền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ chuyển khoản cho người cư trú. Người cư trú được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú.
+ Nhà đầu tư nước ngoài được đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ chuyển khoản khi tham gia đấu giá trong các trường hợp sau:
Mua cổ phần tại doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
Mua cổ phần, phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
Mua cổ phần, phần vốn góp của doanh nghiệp nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác thực hiện thoái vốn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Trường hợp trúng đấu giá, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện chuyển vốn đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối để thanh toán giá trị mua cổ phần, phần vốn góp. Trường hợp đấu giá không thành công, nhà đầu tư nước ngoài được chuyển ra nước ngoài số tiền đặt cọc, ký quỹ bằng ngoại tệ sau khi đã trừ đi các chi phí phát sinh liên quan (nếu có).
Như vậy, theo quy định nêu trên người không cư trú được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam bằng việc:
- Được chuyển khoản bằng ngoại tệ cho người không cư trú khác;
- Được ghi giá trong hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán tiền xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ bằng ngoại tệ chuyển khoản cho người cư trú.
Người cư trú được báo giá, định giá bằng ngoại tệ và nhận thanh toán bằng ngoại tệ chuyển khoản khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người không cư trú.
Xem thêm: Hồ sơ, thủ tục xin cấp phép sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam?
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Quy định về hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!