- 1. Tranh chấp thương mại quốc tế là gì?
- 2. Các loại vi phạm trong tranh chấp thương mại quốc tế
- 2.1. Vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương
- 2.2. Vi phạm liên quan đến việc kí kết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại cụ thể
- 3. Một số nét chung trong giải quyết tranh chấp ngoại thương bằng trọng tài thương mại
- 4. Thẩm quyền xét xử của trọng tài thương mại
- 5. Quy định về trọng tài quy chế
- 6. Đặc điểm của trọng tài quy chế:
- 7. Câu hỏi thường tặp về trọng tài thương mại nói chung
- 7.1 Khái niệm phán quyết trọng tài được hiểu như thế nào?
- 7.2 Khái niệm trọng tài vụ việc được hiểu như thế nào?
- 7.3 Điều lệ của tổ chức trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là gì?
1. Tranh chấp thương mại quốc tế là gì?
Tranh chấp thương mại quốc tế - danh từ, trong tiếng Anh được dùng bởi cụm từ International Commercial Dispute.
Tranh chấp thương mại quốc tế là những mâu thuẫn phát sinh khi một trong các bên vi phạm, hay nói cách khác là không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết của mình trong hoạt động thương mại quốc tế.
2. Các loại vi phạm trong tranh chấp thương mại quốc tế
Trong thương mại quốc tế có hai loại vi phạm nghĩa vụ:
2.1. Vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các hiệp định thương mại song phương và đa phương
Chủ thể của các loại vi phạm này chỉ có thể là các quốc gia với tư cách là chủ thể của Luật Quốc tế. Những tranh chấp phát sinh từ loại vi phạm này được giải quyết bằng những hình thức và thủ tục hoàn toàn không giống nhau.
Khi vi phạm nghĩa vụ được qui định trong các hiệp định thương mại song phương thì tranh chấp sẽ được giải quyết ở tòa án hay trọng tài. Khi tranh chấp phát sinh từ việc vi phạm nghĩa vụ được qui định trong Hiệp định thương mại khu vực thì tranh chấp sẽ được cơ quan tài phán về Thương mại của khu vực đó giải quyết.
2.2. Vi phạm liên quan đến việc kí kết và thực hiện các loại hợp đồng thương mại cụ thể
Tranh chấp thương mại phát sinh là do không thực hiện hay thực hiện không đúng như hợp đồng trong hoạt động thương mại. Như vậy có thể nói rằng tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế là những tranh chấp phát sinh do một trong các bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình do hợp thương mại quốc tế qui định.
Chủ thể của loại tranh chấp này là các bên tham gia hợp đồng thương mại quốc tế không phụ thuộc vào việc các bên là thương nhân hay là nhà nước.
Trong thực tiễn hoạt động thương mại nói chung, loại vi phạm này được thể hiện ở ba khía cạnh:
- Vi phạm liên quan đến các sự kiện pháp lí;
- Vi phạm liên quan đến việc giải thích hợp đồng hay các vấn đề pháp lí khác;
- Vi phạm liên quan đến cả hai loại trên, ví dụ không có khả năng thực hiện hợp đồng.
3. Một số nét chung trong giải quyết tranh chấp ngoại thương bằng trọng tài thương mại
Trọng tài thương mại là cơ quan trung gian được các bên đương sự giao tranh chấp cho để xét xử. Để giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại, hàng hải... ở các nước thường thành lập các tổ chức trọng tài thương mại, trọng tài hàng hải. Trọng tài thương mại thường xét xử các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa ngoại thương, hợp đồng đầu tư, hợp đồng chuyển giao công nghệ v.v... Trọng tài hàng hải thì xét xử các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển, hợp đồng bảo hiểm hàng hải, hợp đồng lai dắt tàu, hợp đồng cứu hộ... Song ở nước nào chỉ thành lập một tổ chức trọng tài thì tổ chức trọng tài này giải quyết tất cả các tranh chấp phát sinh trong thương mại hàng hải… Ngày nay, với cách hiểu mới về khái niệm thương mại, người ta không phân biệt trọng tài hàng hải hay trọng tài thương mại, mà gọi chung loại hình tổ chức trọng tài này là trọng tài thương mại.
Trọng tài thương mại được thành lập dưới hai hình thức: Trọng tài vụ việc và Trọng tài thường trực.
- Trọng tài vụ việc là loại Trọng tài do hai bên đương sự lập ra để giải quyết một tranh chấp cu thể, sau khi giải quyết xong thì giải tán (Thủ tục thành lập Hội đồng trọng tài vụ việc được quy định tại Điều 41 Trọng tài thương mại năm 2010).
- Trọng tài thường trực (hay còn gọi là Trọng tài quy chế) là loại Trọng tài được thành lập và hoạt động thường xuyên theo một quy chế nhất định.
Hiện nay, ở hầu hết các nước đã có Trọng tài thường trực. Chẳng hạn, ở Nhật Bản có Hiệp hội Trọng tài thương mại Nhật Bản, ở Hồng Kông có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Hồng Kông, ở Thái Lan có úy ban Trọng tài thương mại Thái Lan, ở Anh có Tòa án Trọng tài Quốc tế Luân Đôn, ở Việt Nam có Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC), Trung tâm Trọng tài Thương mại Hà Nội, Trung tâm Trọng tài thương mại Á châu v.v... Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kình tế quốc tế như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng đầu tư, du lịch quốc tế, hợp đồng vận tải và bảo hiểm quốc tế, hợp đồng chuyển giao công nghệ v.v... Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam được thành lập năm 1993, là kết quả của việc tô chức lại, hợp nhất hai Hội đồng Trọng tài là Hội đồng Trọng tài ngoại thương (được thành lập năm 1964) và Hội đồng Trọng tài hàng hải Việt Nam (được thành lập năm 1961).
Điều 3 khoản 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật này và theo Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó”.
Xu hướng chung hiện nay là các bên đương sự thường giao tranh chấp cho Trọng tài thương mại xét xử, vì việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài so với việc xét xử của Tòa thương mại có những điểm lợi thế như:
- Thủ tục kiện ra trọng tài đơn giản
- Tranh chấp được giải quyết không công khai do đó đảm bảo bí mật kinh doanh.
- Các trọng tài viên tinh thông nghiệp vụ về thương mại nên giải quyết nhanh, kết quả xét xử có thể thỏa đáng, hợp lý.
- Các trọng tài viên thường có thế mạnh là có thể sử dụng ngoại ngữ để giải quyết tranh chấp.
- Thời gian giải quyết tranh chấp không dài.
- Phán quyết của Trọng tài có giá trị chung thẩm cho nên không phải đi kiện theo thủ tục phúc thẩm.
4. Thẩm quyền xét xử của trọng tài thương mại
- Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp nếu các bên có thỏa thuận trọng tài
Trọng tài thương mại ở các nước được thành lập ra để xét xử các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, kể cả hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, đối với một tranh chấp cụ thể thì Trọng tài thương mại không có thẩm quyền đương nhiên. Trọng tài thương mại chỉ có thẩm quyền xét xử khi các bên đương sự thông nhất thỏa thuận giao tranh chấp cho Trọng tài giải quyết. Thỏa thuận đó được gọi là thỏa thuận trọng tài.
Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh (Điều 3 khoản 2 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).
Việc giao tranh chấp cho Trọng tài xét xử, tức là thỏa thuận trọng tài, trưốc hết được quy định trong hợp đồng. Lúc ký hợp đồng các bên thỏa thuận điều khoản về trọng tài, trong đó quy định trọng tài nào sẽ giải quyết tranh chấp phát sinh sau này.
Nếu trong hợp đồng không có điều khoản về thỏa thuận trọng tài thì trong quá trình thực hiện hơp đồng các bên có thể thỏa thuận giao tranh chấp một trọng tài cụ thể nào đó giảị quyết.
Việc giao tranh chấp cho Trọng tài thương mại xét xử cũng có thể được quy định trong các điều ước quốc tế hữu quan, hoặc trong luật quốc gia.
Ví dụ, Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010 quy định rằng tranh chấp được giải quyết bằng trong tài nếu các bên có thỏa thuận Trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp (Điều 5 khoản 1).
Như vậy, thẩm quyển xét xử của Trọng tài thương mại đối với các tranh chấp cụ thể trong ngoại thương được quy định trong hợp đồng, trong một văn bản thỏa thuận riêng về trọng tài do các bên ký, hoặc trong điều ước quốc tế hữu quan hay trong luật quốc gia. Đặc biệt, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 khẳng định rằng Thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.
Cần lưu ý về hình thức của thỏa thuận trọng tài.
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định, tại Điều 16, rằng thỏa thuận trọng tài có thể được xác lập dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc dưối hình thức thỏa thuận riêng. Thỏa thuận trọng tài phải được xác lập dưới dạng văn bản. Điều 16 khoản 2 của Luật liệt kê những hình dưối đây cũng được coi là văn bản:
a) Thỏa thuận được xác lập qua trao đổi giữa các bên bằng telegram, fax, telex, thư điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật;
b) Thỏa thuận được xác lập thông qua trao đổi thông tin bằng văn bản giữa các bên;
c) Thỏa thuận được luật sư, công chứng viên hoặc tổ chức có thẩm quyền ghi chép lại bằng văn bản theo yêu cầu của các bên;
d) Trong giao dịch các bên có dẫn chiếu đến một văn bản có thể hiện thỏa thuận trọng tài như hợp đồng, chứng từ, điều lệ công ty và những tài liệu tương tự khác;
đ) Qua trao đổi về đơn kiện và bản tự bảo vệ mà trong đó thể hiện sự tồn tại của thỏa thuận do một bên đưa ra và bên kia không phủ nhận.
- Trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về thương mại.
Hoạt động thương mại, được quy định tại Điều 3 khoản 1 của Luật Thương mại năm 2005, là "hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 mở rộng thẩm quyền của trọng tài, theo đó, tại Điều 2 quy định rằng trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp dưới đây:
- Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;
- Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;
- Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.
Như vậy, theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010, ở Việt Nam, thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài dựa trên thỏa thuận trọng thi giha các bên và tranh chấp về thương mại theo quy định của pháp luật.
5. Quy định về trọng tài quy chế
Theo quy định của hầu hết các quốc gia thì trọng tài đều tồn tại dưới hình thức trọng tài phi chính phủ (với tư cách là một tổ chức xã hội nghề nghiệp), không nằm trong bộ máy nhà nước. Tuy nhiên, vẫn có những ngoại lệ mang sắc thái riêng trong pháp luật trọng tài ở một số nước châu Á, như: Trung Quốc, Thái Lan. Ở Trung Quốc, các ủy ban họng tài hợp đồng kinh tế là những cơ quan nhà nước thuộc Cục quản lý hành chính công thương các cấp. Thái Lan thành lập Viện trọng tài thuộc Bộ Tư pháp, có quy tắc tố tụng riêng nhằm hỗ trợ, phát triển các hoạt động hoà giải và trọng tài. Theo đó, Trọng tài quy chế ở các quốc gia trên thế giới thường được tổ chức dưới những hình thức đa dạng, như: các Trung tâm Trọng tài (Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore, Trung tâm Trọng tài thương mại quốc tế Australia, Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông...), các Hiệp hội trọng tài (Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ, Hiệp hội trọng tài Nhật Bản) hay các Viện trọng tài (Viện trọng tài Stockholm - Thụy Điển), nhưng chủ yếu và phổ biến được tổ chức dưới dạng các Trung tâm Trọng tài.
Theo pháp luật Việt Nam, Trọng tài quy chế được tổ chức dưới dạng các Trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định.
Trọng tài quy chế là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó.
6. Đặc điểm của trọng tài quy chế:
- Thứ nhất, Trọng tài quy chế được tổ chức dưới hình thức các Trung tâm trọng tài. Trung tâm trọng tài là tổ chức phi chính phủ, không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước.
Các Trung tâm trọng tài được thành lập theo sáng kiến của các Trọng tài viên sau khi được cơ quan nhà nước có thấm quyền cho phép, chứ không phải được thành lập bởi Nhà nước. Các Trung tâm trọng tài không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước (như trọng tài kinh tế nhà nước trước đây), cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử nhà nước (như toà án kinh tế hiện nay). Trung tâm trọng tài hoạt động không vì mục đích lợi nhuận. Hoạt động của Trung tâm trọng tài theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí hoạt động từ Ngân sách Nhà nước. Trọng tài viên duy nhất hoặc Hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba độc lập ra phán quyết.
Là tổ chức phi chính phủ nhung các Trung tâm trọng tài vẫn luôn đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của Nhà nước. Nhà nước là chủ thể quản lý đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Nhà nước quản lý đối với các Trung tâm trọng tài thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của các Trung tâm trọng tài. Ngoài ra, việc quản lý nhà nước đối với Trọng tài thương mại còn được thực hiện thông qua hoạt động quản lý của hệ thống các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp; thay đổi, bổ sung hay thu hồi Giấy phép thành lập, Giấy đăng ký hoạt động của các Trung tâm trọng tài...
Trong quá trình hoạt động, các Trung tâm trọng tài cung cần sự hỗ trợ của Nhà nước trên nhiều phương diện. Trọng tài thương mại là cơ quan “tài phán tư”, không nhân danh quyền lực nhà nước. Bởi vậy, ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, hoạt động của các Trung tâm trọng tài cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước. Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với hoạt động của Trọng tài thương mại được thể hiện rồ nét, như: hỗ trợ chỉ định, thay đổi Trọng tài viên; hỗ trợ trong việc xem xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài; hỗ trợ trong việc quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; hỗ trợ trong việc hủy hoặc không hủy Quyết định trọng tài; hỗ trợ trong việc cưỡng chế thi hành Quyết định trọng tài...
- Thứ hai, các Trung tâm trọng tài có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng (Khoản 1 Điều 27 Luật Trọng tài thương mại năm 2010) tồn tại độc lập với nhau. Trung tâm trọng tài là tổ chức có tư cách pháp nhân, đáp ứng đầy đủ các điều kiện của pháp nhân quy định tại Điều 74 bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm:
+ Được thành lập hợp pháp;
+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
+ Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó;
+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Mỗi Trung tâm trọng tài là một pháp nhân, tồn tại độc lập và bình đẳng với các Trung tâm trọng tài khác. Trung tâm trọng tài được lập Chi nhánh, Văn phòng đại diện ở trong nước và nước ngoài.
Ngoài sự độc lập, bình đẳng và quan hệ hợp tác (nếu có) giữa các Trung tâm trọng tài không tồn tại quan hệ phụ thuộc mang tính hành chính trong cơ quan tài phán hành chính như cấp trên, cấp dưới. Sự khác biệt này về tổ chức của Trọng tài thương mại (cơ quan tài phán tư) so với hệ thống tổ chức của toà án (cơ quan tài phán công) dẫn đến tính đặc thù của tố tụng trọng tài trong việc áp dụng nguyên tắc xét xử một lần.
- Thứ ba, tổ chức và quản lý ở các Trung tâm trọng tài đơn giản, gọn nhẹ. Trung tâm trọng tài có Ban điều hành và Ban thư ký. Cơ cấu, bộ máy của Trung tâm trọng tài do điều lệ của Trung tâm quy định. Ban điều hành Trung tâm trọng tài gồm có Chủ tịch, một hoặc các Phó Chủ tịch, có thể có Tổng thư ký do Chủ tịch Trung tâm trọng tài cử. Chủ tịch Trung tâm trọng tài là Trọng tài viên. Trung tâm trọng tài có danh sách Trọng tài viên. Các Trọng tài viên tham gia vào việc giải quyết tranh chấp khi được chọn hoặc chỉ định.
- Thứ tư, mỗi Trung tâm trọng tài tự quyết định về lĩnh vực hoạt động và có quy tắc tố tụng riêng. Mỗi Trung tâm trọng tài tự xác định về lĩnh vực hoạt động của mình tùy thuộc vào khả năng chuyên môn của đội ngũ Trọng tài viên và phải được ghi rõ trong Điều lệ của Trung tâm trọng tài. Trong quá trình hoạt động, các Trung tâm trọng tài có quyền mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi lĩnh vực hoạt động, nhưng phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Là tổ chức phi chính phủ, các Trung tâm trọng tài tồn tại độc lập với nhau, vừa hợp tác, vừa cạnh tranh cùng nhau. Bên cạnh chất lượng các Trọng tài viên, sự đơn giản và linh hoạt của quy tắc tố tụng cũng là yếu tố tạo ra sự hấp dẫn của mỗi Trung tâm trọng tài trước các khách hàng. Bởi vậy, mỗi Trung tâm trọng tài đều có Điều lệ riêng, đặc biệt là quy tắc tố tụng riêng được xây dựng căn cứ vào đặc thù về tổ chức, hoạt động của Trung tâm và không trái với quy định của pháp luật Trọng tài thương mại. Khi giải quyết tranh chấp, Hội đồng trọng tài hoặc Trọng tài viên duy nhất phải tuân thụ quy tắc tố tụng này.
Bản quy tắc họng tài UNCITRAL do ủy ban về Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (thông qua năm 1976) hay Bản quy tắc trọng tài của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) có hiệu lực từ năm 1988 và một số Công ước quốc tế có liên quan cũng như Bản quy tắc tố tụng của một số Trung tâm trọng tài quốc tế có uy tín (London, Brussell...) thường được coi là cơ sở, khuôn mẫu cho việc xây dựng quy tắc tố tụng của các Trung tâm trọng tài.
- Thứ năm, hoạt động xét xử của Trung tâm trọng tài được tiến hành bởi các Trọng tài viên của Trung tâm.
Mỗi Trung tâm trọng tài đều có danh sách riêng về Trọng tài viên của Trung tâm. Việc chọn hoặc chỉ định Trọng tài viên tham gia Hội đồng trọng tài hoặc Trọng tài viên duy nhất để giải quyết vụ tranh chấp chỉ được giới hạn trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm trọng tài. Vì vậy, hoạt động xét xử của Trung tâm trọng tài chỉ được tiên hành bởi các Trọng tài viên của chính Trung tâm. Đặc điểm này có sự khác biệt so với giải quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài vụ việc.
Xét trên phương diện phạm vi cả nước, ngoài các Trung tâm trọng tài thì còn có Hiệp hội trọng tài. Hiệp hội trọng tài là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Trọng tài viên và Trung tâm trọng tài trong phạm vi cả nước. Việc thành lập và hoạt động của Hiệp hội trọng tài được thực hiện theo quy định của pháp luật về hội nghề nghiệp (Điều 22 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).
Tổ chức trọng tài nước ngoài đã được thành lập và đang hoạt động hợp pháp tại nước ngoài, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì được phép hoạt động tại Việt Nam theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Tổ chức trọng tài nước ngoài hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức sau đây:
+ Chi nhánh của Tổ chức trọng tài nước ngoài (sau đây gọi là Chi nhánh);
+ Văn phòng đại diện của Tổ chức trọng tài nước ngoài (Điều 74 Luật Trọng tài thương mại năm 2010).
Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Tổ chức trọng tài nước ngoài, được thành lập và thực hiện hoạt động trọng tài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật. Tổ chức trọng tài nước ngoài và Chi nhánh của mình chịu trách nhiệm về hoạt động của Chi nhánh trước pháp luật Việt Nam. Tổ chức trọng tài nước ngoài cử một Trọng tài viên làm Trưởng Chi nhánh. Trưởng Chi nhánh là người đại diện theo ủy quyền của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Chi nhánh của Tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 76 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của Tổ chức trọng tài nước ngoài được thành lập và tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội hoạt động trọng tài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật. Tổ chức trọng tài nước ngoài phải chịu trách nhiệm về hoạt động của Văn phòng đại diện trước pháp luật Việt Nam. Văn phòng đại diện của Tổ chức Trọng tài thương mại nước ngoài tại Việt Nam thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 78 Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
7. Câu hỏi thường tặp về trọng tài thương mại nói chung
7.1 Khái niệm phán quyết trọng tài được hiểu như thế nào?
Phán quyết trọng tài là quyết định cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp thương mại và chấm dứt tố tụng trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp. Nếu Hội đồng trọng tài thấy rằng yêu cầu này là chính đáng thì phải giải thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
7.2 Khái niệm trọng tài vụ việc được hiểu như thế nào?
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài xuất hiện sớm nhất, được sử dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới. Pháp luật về trọng tài của các nước trên thế giới đều ghi nhận sự tồn tại của hình thức trọng tài này. Tuy nhiên, quy định của pháp luật các nước về hình thức trọng tài này cũng ở mức độ sâu, rộng khác nhau.
Trọng tài vụ việc là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận.
Trọng tài vụ việc (Ad-hoc arbitration) là hình thức trọng tài được các bên tranh chấp thỏa thuận lập ra để giải quyết xong vụ tranh chấp đó. Trọng tài vụ việc không có trụ sở và bộ máy cố định, không có danh sách trọng tài viên và không có qui tắc tố tụng riêng.
7.3 Điều lệ của tổ chức trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là gì?
Điều lệ của tổ chức trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam là văn bản pháp lí quy định nhiệm vụ, chức năng, cơ cấu của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.
Căn cứ pháp lý ban hành điều lệ tổ chức trung tâm trọng tài quốc tế tại Việt Nam:
>> Điều lệ này được ban hành kèm theo Quyết định số 204/TTg ngày 28.4.1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam.