- 1. Các doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân
- 2. Quy định chung về Doanh nghiệp tư nhân
- 3. Lịch sử chế định thành lập doanh nghiệp
- 4. Quản lý doanh nghiệp
- 5. Các biến chuyển trong hoạt động của doanh nghiệp
- 5.1. Cho thuê doanh nghiệp.
- 5.2. Bán doanh nghiệp.
- 6. Câu hỏi thường gặp về doanh nghiệp tư nhân
- 6.1 Quy định về việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân?
- 6.2 Quy định việc thông báo khi cho thuê doanh nghiệp tư nhân?
1. Các doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân
Luật Doanh nghiệp định nghĩa: “doanh nghiệp là tổ chức kinh tế... được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy danh từ “doanh nghiệp” rộng hơn danh từ “công ty”. Công ty tiên niệm phải có sự hùn hiệp tài sản giữa ít nhất là hai người, trong khi doanh nghiệp có thể là một tổ chức kinh tế do một người làm chủ. Theo luật hiện hành chúng ta có hai tổ chức kinh tế thuộc dạng này, đó là Doanh nghiệp tư nhân và Hộ kinh doanh cá thể. Có thể nói đây là hai tổ chức kinh tế đầu tiên được pháp luật cho phép thành lập và hoạt động ở Việt Nam sau khi có chính sách đổi mới. Theo một nghiên cứu của tổ chức MPDF (Chương trình phát triển kinh tế tư nhân) thì trong 4 năm từ ngày 01.01.2000 đến ngày 31.12.2003 trên toàn quốc tổng số các doanh nghiệp đăng ký là 83.490 trong đó Doanh nghiệp tư nhân chiếm 27.865; điều này cho thây Doanh nghiệp tư nhân hiện nay chiếm một địa vị quan trọng trong nền kinh tế quốc dân (Chuyên đề nghiên cứu kinh tế tư nhân số 20).
Còn đối với Hộ kinh doanh cá thể, chính sách của nhà nước là khuyến khích các tổ chức này chuyển sang hình thức kinh doanh khác; tuy nhiên đến nay nó vẫn tồn tại dù số lượng không nhiều và chủ yếu là kinh doanh nhỏ.
Đặc điểm của Doanh nghiệp tư nhân và Hộ kinh doanh cá thể là các tổ chức này không có tư cách pháp nhân, không có sản nghiệp riêng. Tư cách pháp lý của doanh nghiệp được đồng hoá với chủ doanh nghiệp, toàn bộ tài sản của chủ doanh nghiệp là vật thế chấp chung của các chủ nợ, chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân và không giới hạn về các khoản nợ của doanh nghiệp.
2. Quy định chung về Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) do một cá nhân đứng ra thành lập và làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, ưu điểm của hình thức kinh doanh này là Chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định về mọi vân đề liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, do đó tổ chức việc quản lý tương đối đơn giản, không có rủi ro xảy ra các khó khăn vì có ý kiên khác nhau giữa các thành viện như đối vơi Công ty TNHH hay Công ty cổ phần. Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân (Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020).
Nhưng trở ngại lớn nhất của loại hình kinh doanh này là Chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cá nhân ưên toàn bộ tài sản của mình về các khoản nỢ của doanh nghiệp. Do đỏ, nếu làm ăn thua lỗ thì không những cá nhân Chủ doanh nghiệp mà cả gia đình vợ con họ có thể lâm vào tình trạng khốn khó; Điều này chứng tỏ tại sao các Chủ doanh nghiệp tư nhân thường không dám đầu tư lớn vào công cuộc kinh doanh, không có các quyết định táo bạo trong sản xuất. Thực tế doanh nghiệp tư nhân phần lớn là các tổ chức kinh tế cỡ nhỏ không đem lại nhiều lợi lộc cho nền kinh tế quốc dân.
Luật Doanh nghiệp cho phép cá nhân được thành lập Công ty TNHH một thành viên nên việc thành lập doanh nghiệp tư nhân không còn nhiều lợi ích như trước đây: một cá nhân có thể đứng ra thành lập một Công ty TNHH một thành viên, họ có toàn quyền điều hành công ty theo ý muôn trong khi trách nhiệm về tài sản của họ đốì với hoạt động của công ty chỉ giới hạn trong số vốn góp vào công ty. Rồi đây dạng Công ty TNHH một thành viên sẽ phát triển và dành vị trí của doanh nghiệp tư nhân hiện nay.
Nhưng cái gì cũng có mặt ưái của nó: cho phép một cá nhân thắnh lập công ty của riêng mình tức là phá vỡ bản chất hợp đồng của công ty; thành lập công ty không cần phải có sự thoả thuận của ít nhất hai ý chí, mà có thể do hành vi đơn phương của một cá nhân. Sự hùn hiệp giữa nhiều người không còn là yếu tô' cơ bản của công ty; lý thuyết theo đó pháp nhân là một thực tế không còn phù hợp nữa, pháp nhân chỉ còn là một kỹ thuật pháp lý thuần túy.
3. Lịch sử chế định thành lập doanh nghiệp
Theo Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21.12.1990, doanh nghiệp phải có vốh không thấp hơn vốn pháp định. Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 221-HĐBT ngày 23.07.1991 đã đưa ra một danh mục vốn pháp định của doanh nghiệp tư nhân tùy ngành nghề kinh doanh: cơ khí từ 80.000.000đ đến 150.000.000đ; điện tử từ 40.000.000đ đến 80.000.000đ; dệt may 150.000.000đ... Luật Doanh nghiệp tư nhân ngày 21.12.1990 đã được thay thê' bởi Luật Doanh nghiệp ngày 12.06.1999 và nay là Luật Doanh nghiệp 2005, theo đó doanh nghiệp tư nhân không bắt buộc phải có vốh pháp định, vốn do Chủ doanh nghiệp tự khai.
Các điều kiện về hình thức và nội dung để thành lập doanh nghiệp tư nhân cũng giống các điều kiện chung để thành lập công ty như đã trình bày trong phần trên: doanh nghiệp phải có trụ sở xác định; tên doanh nghiệp không vi phạm pháp luật và không trùng với tên của doanh nghiệp khác; mục đích của doanh nghiệp không thuộc các hoạt động bị câm...
Ở đây, chúng ta chỉ xét các điều kiện riêng cho doanh nghiệp tư nhân:
- Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một thành viên là Chủ doanh nghiệp nên không cần phải có Điều lệ.
- Chỉ có một thành viên, nếu có hai thành viên thì phải chọn hình thức công ty.
- Chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính chính xác của vốn tự khai; phải khai báo tổng số vốn đầu tư nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác.
Về thủ tục thành lập, Chủ doanh nghiệp phải lập hồ sơ đăng ký kinh doanh gồm có:
- Đơn đăng ký kinh doanh theo mẫu;
- Nếu kinh doanh các ngành nghề phải có chứng chỉ hành nghề thì phải có bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của Chủ doanh nghiệp hoặc Giám đốc quản lý doanh nghiệp;
- Nếu kinh doanh ngành nghề phải có vốn pháp định thì phải có xác nhận của Cơ quan có thẩm quyền hoặc chứng chỉ hợp lệ chứng minh về số vốn của doanh nghiệp.
Hồ sơ gởi đến cơ quan đăng ký kinh doanh tình hoặc thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp có trụ sở. Doanh nghiệp được phép bắt đầu hoạt động sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Doanh nghiệp cũng phải bố cáo việc đăng ký kinh doanh như đối với các công ty.
4. Quản lý doanh nghiệp
Trên nguyên tắc, Chủ doanh nghiệp tự mình quản lý doanh nghiệp, tự quyết định và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, Chủ doanh nghiệp có thể thuê một người khác là Giám đốc quản lý doanh nghiệp. Trên phương diện pháp lý Giám đốc chỉ là người làm thuê, Chủ doanh nghiệp tiếp tục phải chịu trách nhiệm về các cam kết của Giám đốc với người thứ ba. Tương quan giữa Chủ doanh nghiệp và Giám đốc là tương quan giữa người thuê lao động và người lao động, đây là một quan hệ thống thuộc theo đó Gỉám đốc phải tuân theo các chỉ thị của Chủ doanh nghiệp, nếu phạm lỗi thì phải bồi thường cho Chủ doanh nghiệp.
Chủ doanh nghiệp thuê giám đốc thì phải khai báo việc này với cơ quan đăng ký kinh doanh. Trong mọi trường hợp, Chủ doanh nghiệp vẫn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Trong quá trình kinh doanh, Chủ doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình. Việc tăng hay giảm vốn không cần phải xin phép hoặc thông báo với ai cả mà chỉ cần được ghi chép đầy đủ trong sổ sách kế toán. Tuy nhiên, nếu giảm vốn đầu tư xuống tháp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì Chủ doanh nghiệp chỉ được làm việc này sau khi đã khai báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh.
Toàn bộ vốn và tài sản, kể cả vốn vay và tài sản thuê, được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Hàng năm sau khi kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp phải gửi báo cáo tài chính cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế có thẩm quyền.
5. Các biến chuyển trong hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp tư nhân không được coi là một pháp nhân độc lập, mà chỉ là một thành phần trong sản nghiệp của Chủ doanh nghiệp. Vì là một tài sản cho nên Chủ doanh nghiệp có thể cho thuê hay bán doanh nghiệp. Ngoài ra, khi cần Chủ doanh nghiệp có quyền tạm ngưng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà không cần giải thể (Điều 191-192 Luật Doanh nghiệp 2020).
5.1. Cho thuê doanh nghiệp.
Cho thuê doanh nghiệp có nghĩa là Chủ doanh nghiệp thoả thuận cho một người khác thay thế mình thực hiện hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp là một tài sản, Chủ doanh nghiệp vẫn là chủ sở hữu tài sản này, duy có việc khai thác tài sản là được giao cho người khác. Giữa Chủ doanh nghiệp và người thuê có một hợp đồng thuê, trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên. Hợp đồng này phải được công chứng và kèm theo báo cáo về việc cho thuê gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế.
Theo Điều 191 Luật Doanh nghiệp 2020 thì trong thời gian cho thuê “Chủ Doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp”. Vân đề đặt ra là phạm vi trách nhiệm này như thế nào? Nếu hiểu theo văn từ thì mặc dù đã cho thuê, Chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm như không hề có sự thuê mướn này. Đây là một điều trái với các nguyên tắc pháp lý thông thường nên khó có thể chấp nhận được. Sự thực Chủ doanh nghiệp chỉ chịu ttách nhiệm về tài sản cho thuê mà không chịu trách nhiệm về công việc khai thác tài sản này.
Áp dụng nguyên tắc chung đối với hợp đồng cho thuê tài sản, Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ giao doanh nghiệp cho người thuê sử dụng một cách yên ổn.
Chủ doanh nghiệp phải giao cho bên thuê doanh nghiệp theo đúng thoả thuận trong hợp đồng. Trong hợp đồng hai bên có thể thoả thuận là người thuê nhận doanh nghiệp trong hiện trạng hoặc là Chủ doanh nghiệp phải thực hiện một vài sửa chữa, cải tạo trước khi giao.
Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ phải bảo đảm cho người thuê sử dụng ổn định cơ sở kinh doanh trong thời gian thuê. Nghĩa vụ này bao gồm: bảo đảm cho người thuê không bị quây nhiễu trong thời gian thuê, bảo đảm các hư hỏng của cơ sở kinh doanh.
Quấy nhiễu có thể là các trở ngại thực tế do Chủ doanh nghiệp hay người thứ ba gây ra như: cản trở việc ra vào doanh nghiệp, cản trở việc sử dụng các trang thiết bị... Cũng có thể là trở ngại pháp lý như: cho người khác thuê cơ sở trong khi hợp đồng thuê còn hiệu lực; doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh...
Chủ doanh nghiệp phải sửa chữa các hư hỏng tại cơ sở kinh doanh nếu các hư hỏng này khiến bên thuê không sử dụng được nơi thuê một cách bình thường.
Đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trên nguyên tắc ttách nhiệm thuộc về người thuê. Để ttánh các tranh cãi về vấn đề này, trong hợp đồng cho thuê doanh nghiệp phải quy định rõ quyền và trách nhiệm của hai bên đối với hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian thuê mướn. Ngoài ra, đối với người thứ ba, sự thuê mướn chỉ đối kháng được vơi họ sau khi được bố cáo theo phương thức luật định.
5.2. Bán doanh nghiệp.
Là một tài sản trong sản nghiệp của chủ sở hữu doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân có thể là đối tượng của một hợp đồng mua bán.
Trước ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người mua, Chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh, đồng thời phải kê khai:
• Tổng số nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp;
• Danh sách chủ nợ, nợ của từng người và thời hạn thanh toán nợ;
• Các hợp đồng lao động và các hợp đồng khác đã ký kết nhưng chưa thực hiện xong và cách thức giải quyết các hợp đồng này.
Như vậy, việc bán doanh nghiệp phải được thực hiện như trường hợp giải thể doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp phải thực hiện xong các nghĩa vụ đã cam kết với người thứ ba trước khi chuyển nhượng doanh nghiệp cho người khác. Nếu hai bên mua bán thoả thuận chuyển giao doanh nghiệp trước đó thì sau khi chuyển giao Chủ doanh nghiệp vẫn phải thi hành các nghĩa vụ đã cam kết trừ khi người mua thoả thuận gánh chịu một phần hay toàn bộ các nghĩa vụ này. Một sự thoả thuận như vậy phải được ghi rõ trong hợp đồng mua bán.
Sau khi nhận chuyển giao doanh nghiệp người mua phải đăng ký kinh doanh lại như mới thành lập doanh nghiệp.
6. Câu hỏi thường gặp về doanh nghiệp tư nhân
6.1 Quy định về việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân?
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp tư nhân của mình nhưng phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày hợp đồng cho thuê có hiệu lực. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân được quy định trong hợp đồng cho thuê.
6.2 Quy định việc thông báo khi cho thuê doanh nghiệp tư nhân?
Sau khi ký kết hợp đồng cho thuê doanh nghiệp tư nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân (là bạn) hoặc người đại diện theo ủy quyền thực hiện thủ tục thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, Cơ quan thuế, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng cho thuê có hiệu lực thi hành.
Việc gửi thông báo cho thuê doanh nghiệp tư nhân đến Cơ quan đăng ký kinh doanh được quy định cụ thể tại khoản 4 Điều 60 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. Ngoài ta, bạn hoặc người đại diện theo ủy quyền có thể nộp trực tiếp theo quy định tại Phòng đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính hoặc nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.
Thành phần hồ sơ sẽ bao gồm các giấy tờ sau:
– Thông báo về việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân
– Hợp đồng cho thuê có công chứng
Sau khi nhận Thông báo, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và bổ sung, thay đổi thông tin của doanh nghiệp trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp có nhu cầu, Phòng Đăng ký kinh doanh cấp Giấy xác nhận về việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân cho doanh nghiệp