Trả lời:

1. Thoả ước Nice về phân loại quốc tế hàng hoá và dịch vụ

Nằm trong nhóm các điều ước quốc tế về phân loại, Thoả ước Nice về phân loại quốc tế hàng hoá và dịch vụ dùng để đăng ký nhãn hiệu được ký ngày 15/6/1957 và bắt đầu hiệu lực kể từ ngày 08/4/1961. Thoả ước thuộc sự quản lý trực tiếp của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO). Sự ra đời của Thoả ước nhằm đơn giản hoá thủ tục phân loại đối với hàng hoá, dịch vụ để xác định phạm vi bảo hộ đối với nhẵn hiệu trên phạm vi quốc tế thay cho việc phân loại hàng hoá, dịch vụ rất khác nhau cho từng quốc gia trước đó. Theo quy định của Thoả ước, việc phân loại hàng hoá dịch vụ được dựa trên Bảng phân loại Nice, bao gồm 34 nhóm sản phẩm và 11 nhóm dịch vụ và được thiết kế như sau:

- Bảng danh mục các nhóm (List of classes'): Bảng này chứa các tiêu đề, chỉ ra hàng hoá dịch vụ được phân vào nhóm đó. Kèm theo tiêu đề của mỗi nhóm là phần giải thích (Explanatory note) nhằm giải thích rõ hơn các tiêu chí phân loại của nhóm để thuận lợi cho việc phân nhóm.

- Bảng danh mục theo vần chữ cái (Alfabet list): Bảng này dùng để tra cứu phân loại một sản phẩm/dịch vụ cụ thể theo vần Alfabet. Bảng danh mục các nhóm chỉ là các tên chung liên quan đến lĩnh vực mà hàng hoá/dịch vụ được phân vào nhóm. Do vậy Bảng danh mục theo vần chữ cái được tra cứu để xác định chính xác phân loại của từng sản phẩm/dịch vụ cụ thể.

Bảng phân loại Nice được các chuyên gia của Thoả ước Nice hợp với Bảng phân loại sáng chế quốc tế, trên cơ sở đó các cơ sở dữ liệu và công cụ tra cứu sáng chế như Thư viện số về sở hữu công nghiệp (http://iplib.noip.gov.vn) hoặc Thư viện số về Bằng sáng chế của Việt Nam (http://digipat.noip.gov.vn) được xây dựng và khai thác.

2. Điều ước quốc tế khu vực, song phương về quyền sở hữu công nghiệp

Bên cạnh các điều ước quốc tế đa phương, quyền sở hữu công nghiệp còn được điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế khu vực hoặc điều ước quốc tế song phương. Việc các quốc gia ký kết các điều ước quốc tế khu vực, song phương nhằm thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác giữa các quốc gia và nâng cao hiệu quả của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

Ở Việt Nam, để bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp cho công dân và pháp nhân Việt Nam ở nước ngoài cũng như cho công dân và pháp nhân nước ngoài tại Việt Nam một số các điều ước song phương giữa Việt Nam với các nước đã được ký kết, như: Hiệp định hợp tác về sở hữu trí tuệ giữa Việt Nam và Thụy Sỹ 1999; Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ 2000. Đối với điều ước quốc tế khu vực phải kể tới Hiệp định khung về sở hữu trí tuệ giữa các nước ASEAN được ký kết 1995; Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Hiệp định TPP 2015)...

2.1 Hiệp định khung về sở hữu trí tuệ giữa các nước ASEAN

Đây là hiệp định do 7 nước thành viên của AESAN là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philipines, Singapore, Thailan và Việt Nam ký kết ngày 15/12/1995 tại BangKok. Hiệp định đã đặt nền tảng cho việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong đó có quyền sở hữu công nghiệp cho tổ chức, cá nhân của các nước thành viên. Nội dung Hiệp định tập trung điều chỉnh các vấn đề sau:

- Xác định phạm vi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ giữa các nước thành viên. Bao gồm: quyền tác giả và quyền liên quan; sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, thông tin bí mật và thiết kế bố trí mạch tích hợp. Cụ thể:

"Thực hiện một hành động nào đó mà nếu không có sự cho phép này, hành động đó bị coi là trái luật, một sự xâm chiếm hoặc một sự vi phạm dân sự. Trong trường hợp lixăng patent, có nghĩa là sự ủy quyên bằng văn bản bởi chủ sở hữu của patent cho một người khác được phép thực hiện hoặc sử dụng patent đó trong một giới hạn thời gian hay một giới hạn lãnh thổ nhất định".

Cụ thể hơn khái niệm lixăng được giải thích là “hành vi pháp lý” (giao kết hợp đồng), trên cơ sở đó chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp hoặc bí quyết công nghiệp cho phép chủ thể khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của mình (sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá) hoặc bí quyết kĩ thuật (know-how).

Từ những cách giải thích trên có thể hiểu một cách ngắn gọn lỉxăng quyền sở hữu công nghiệp là sự cho phép sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp. về bản chất lixăng quyền sở hữu công nghiệp là sự nhượng quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp của các chủ sở hữu cho các chủ thể có nhu cầu. Tuy nhiên không phải tất cả các đối tượng sở hữu công nghiệp đều là đối tượng của lixăng. Cụ thể đối với chỉ dẫn địa lý được xem là tài sản của quốc gia nên các chủ thể chỉ có quyền sử dụng và không được phép chuyển giao. Bên cạnh đó, một đối tượng khác của quyền sở hữu công nghiệp là tên thương mại, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước đều quy định chỉ được phép chuyển giao khi chuyển giao toàn bộ cơ sở sản xuất kinh doanh.

2.2 Phương thức thực hiện lixăng quyền sở hữu công nghiệp

Lixăng quyền sở hữu công nghiệp hiện nay đang là mô hình kinh doanh rất phổ biến tại nhiều quốc gia trên thế giới, là cách thức để tạo ra sự phân phối hợp lý quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp. Đây là một phương thức để biến ý tưởng thành hiện thực, biến công nghệ thành sản phẩm, đưa đối tượng sở hữu công nghiệp đến gần với người tiêu dùng. Thông qua lixăng quyền sở hữu công nghiệp đã thể hiện sự hợp tác, sự kết nối chặt chẽ

chủ thể khác. Còn bên nhận chuyển giao quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp được quyền chuyển giao đối tượng đó cho các chủ thể khác thông qua hợp đồng lixăng thứ cấp.

Các vấn đề pháp lý về hợp đồng lixăng được quy định trong các điều ước quốc tế đa phương cũng như song phương về sở hữu trí tuệ (Ví dụ, Điều 6quarter công ước Paris; Điều 21 Hiệp định TRIPs; khoản 12 Điều 6 Chương 2 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ...). Nhìn chung, các quy định này mang tính nguyên tắc về lixăng quyền sở hữu công nghiệp, còn các quy định cụ thể về loại lixăng này thường được thể hiện cụ thể trong pháp luật của mỗi quốc gia.

Theo các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp phải được thực hiện dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản (được gọi là hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp). về mặt bản chất đây chính là hợp đồng lixăng đã được nêu ở trên.

Đối với các loại quyền sở hữu công nghiệp được xác lập trên cơ sở đăng ký cấp văn bằng bảo hộ (như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp...) hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp có hiệu lực theo thoả thuận giữa các bên, nhung chỉ có giá trị pháp lý đối với bên thứ ba khi đã được đăng ký tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền sở hữu công nghiệp. Hợp đồng sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp mặc nhiên bị chấm dứt hiệu lực nếu quyền sở hữu công nghiệp của bên chuyển giao bị chấm dứt (khoản 2, 3 Điều 148 Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp bị hạn chế trong các trường hợp sau:

- Quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý, tên thương mại không được chuyển giao.

- Quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể không được chuyển giao cho tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể đó.

- Mỗi nước thành viên của Liên minh đều có quyền đưa ra những biện pháp pháp lý quy định việc cấp lixăng không tự nguyện nhằm ngăn chặn việc lạm dụng có thể nảy sinh từ việc thực hiện độc quyền được xác lập bởi patent, ví dụ như không sử dụng sáng chế.

- Không được quy định việc tước quyền patent, trừ trường hợp việc cấp lixăng không tự nguyện chưa đủ để ngăn chặn sự lạm dụng nêu trên. Việc tước quyền hoặc huỷ bỏ patent không được tiến hành trước khi hết thời hạn hai năm kể từ khi cấp lixãng không tự nguyện đầu tiên.

- Không được áp dụng lixăng không tự nguyện với lý do không sử dụng hoặc sử dụng không đầy đủ trước khi hết thời hạn 4 năm kể từ ngày nộp đơn xin cấp patent hoặc 3 năm kể từ ngày cấp patent, tuỳ theo thời hạn nào kết thúc muộn hơn; lixăng không tự nguyện sẽ bị rút bỏ nếu chủ patent chứng minh được việc không sử dụng của mình là vì những lý do chính đáng. Lixăng không tự nguyện nói trên là lixăng không độc quyền và không được chuyển nhượng, thậm chí dưới hình thức cấp lixăng thứ cấp, trừ trường hợp chuyển nhượng cùng với một phần của cơ sở sản xuất hoặc cơ sở thương mại đang sử dụng lixăng đó.

Tại Hiệp định TRIPs, việc cấp lixăng không tự nguyện được quy định cụ thể tại Điều 31 (từ điểm a đến điểm k), trong đó đối với công nghệ bán dẫn là chỉ được cấp phép lixăng không tự nguyện vào mục đích công cộng, không nhằm mục đích thương mại hoặc nhằm thực hiện chế tài đối với hoạt động bị cơ quan xét xử hoặc cơ quan hành chính coi là chống cạnh tranh (điểm c Điều 31 Hiệp định TRIPs).

Hiện nay các quy định về lixăng không tự nguyện trong Công ước Paris, Hiệp định TRIPs đều được cụ thể hoá trong luật pháp của các quốc gia thành viên. Việc cụ thể hoá này được thực hiện trên nguyên tắc phù hợp với điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi một quốc gia nhưng không được trái với quy định của điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên.

Theo quy định “chung” cấp cao nhất (Generic Top Level Domain-gTLD'), đây là tên miền được dùng bởi các tổ chức, cá nhân cụ thể và phân theo lĩnh vực kinh tế xã hội, ví dụ tên miền “.com” dành cho mọi cá nhân, tổ chức xã hội; tên miền “.org” dùng cho các tổ chức phi chính phủ; tên miền “.edu” dành cho các tổ chức giáo dục đào tạo... và miền mã quốc gia cao cấp nhất (Country Code Top-Level Domain - ccTLD), bao gồm các tên miền được quy định theo chuẩn quốc tế về mã quốc gia, ví dụ “vn” là Việt Nam, “de” là Đức; “be” là Bỉ; “us” là Hoa Kỳ... Tiếp theo tên miền cấp 1, tính từ phải sang trái là tên miền thứ cấp (thường được gọi là tên miền cấp 2, cấp 3). Bộ phận “thứ cấp” là phần quan trọng nhất của tên miền vì căn cứ vào đó người ta có thể phân biệt tên miền với nhau và mang lại giá trị riêng cho mỗi tên miền.

Về bản chất tên miền là một dạng tài nguyên trên Internet được các chủ thể đăng ký khai thác, sử dụng dưới sự điều hành của cơ quan quản lý Internet. Tên miền có ý nghĩa quan trọng đối với người sử dụng Internet, thông qua các thuộc tính sau:

- Có chức năng phân biệt, nhận dạng giữa các website trong môi trường Internet.

- Truyền tải thông tin, định danh địa chỉ cho các website, giúp cho việc tiếp cận các thông tin tại đó dễ dàng.

- Dễ nhớ, dễ nhận biết. Tên miền thường là các cụm từ ngắn, dễ dàng đọc và dễ dàng ghi nhớ.

- Tên miền là duy nhất. Một tên miền khi đã được đăng ký thì người khác không thể đăng ký một tên miền trùng với nó. Hệ thống tên miền trên thế giới cũng như Việt Nam chỉ chấp nhận tính duy nhất của tên miền trên môi trường Internet và theo nguyên tắc ai đăng ký trước được cấp trước.

3. Mối quan hệ giữa tên miền và nhãn hiệu

Khác với nhãn hiệu, tên miền không phải là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nói riêng cũng như quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Tên miền được vnpt.com; vinaphon.com, mobifone.com được đăng ký bởi một công dân Australia vào năm 2003...).

4. Giải quyết tranh chấp giữa tên miền và nhãn hiệu

Internet ngày càng phát triển, số người truy cập Internet tăng lên từng giây, từng phút, các tranh chấp liên quan tên miền và nhãn hiệu ngày càng đa dạng và phức tạp. Để hạn chế các tranh chấp đó, ICANN quy định các chủ thể (chính phủ của các quốc gia, tổ chức, doanh nghiệp...) có quyền gửi đom tới ICANN để phản đối chính thức một đăng ký tên miền từ các chủ thể khác có nguy cơ xâm phạm đến lợi ích của mình. Bên cạnh đó các chủ thể này cũng có quyền sử dụng một trong hai dịch vụ của ICANN: Một là dịch vụ “Sunrise” cho phép các chủ thể đã đăng ký nhãn hiệu được ưu tiên đăng ký tên miền trùng với nhãn hiệu, hai là dịch vụ “Trademark Claim” cho phép các chủ nhãn hiệu được thông báo ngay khi có chủ thể đăng ký tên miền trùng với tên nhãn hiệu của mình.

Cũng theo đề xuất của WIPO, ICAAN đã tiến hành soạn thảo và cho ra đời một cơ chế giải quyết tranh chấp giữa tên miền và nhãn hiệu nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ nhãn hiệu và những người đăng ký tên miền. Quy chế thống nhất giải quyết hanh chấp tên miền (Uniform Domain Name Dispute Resolution Policy - UDRP) đã được chính thức thông qua vào ngày 24/10/1999. Hiện nay UDRP được xem là các quy định chuẩn áp dụng cho các tranh chấp tên miền quốc tế được hầu hết các quốc gia trên thế giới áp dụng trong đó có Việt Nam. Theo đó để chứng minh một tên miền được đăng ký đã xâm phạm tới quyền của chủ nhãn hiệu cần phải thoả mãn 3 điều kiện:

- Sự trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn giữa tên miền với nhãn hiệu.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)