1 Chủ doanh nghiệp tư nhân là gì?

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là loại hình doanh nghiệp một chủ. Giống với Công ty TNHH một thành viên. DNTN do một chủ thể đứng ra thành lập. Chủ thể này dùng tài sản của mình đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không có sự liên kết và chia sẻ với bất cứ ai khác.
Chủ doanh nghiệp tư nhân là chủ sở hữu của doanh nghiệp tư nhân. Là một cá nhân làm chủ và tự làm chủ, tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân.
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền

Thứ nhất: Quyền quản lý doanh nghiệp theo Điều 185 Luật doanh nghiệp 2014

Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý doanh nghiệp thì vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể thuê người khác làm giám đốc, người này sẽ thực hiện điều hành quản lý công việc kinh doanh hằng ngày thay cho chủ doanh nghiệp tư nhân theo các công việc quy định trong hợp đồng lao động ký kết với chủ doanh nghiệp tư nhân.

Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Thứ hai: Quyền cho thuê doanh nghiệp theo Điều 186 Luật doanh nghiệp 2014:

Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình nhưng phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hợp đồng cho thuê có hiệu lực thi hành. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp. Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định trong hợp đồng cho thuê.”

Với tư cách là một tài sản của mình, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê doanh nghiệp như thuê các tài sản khác. Nhưng vì doanh nghiệp tư nhân là một chủ thể kinh doanh, có nhiều mối quan hệ với chủ nợ, bạn hàng, với các chủ thể có liên quan khác nên về thủ tục, chủ doanh nghiệp tư nhân phải báo cáo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến Cơ quan đăng ký kinh doanh.Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp.

Thứ ba, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp theo uy định tại Điều 187 Luật doanh nghiệp 2014

Thứ tư, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tạm ngừng kinh doanh đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên về thủ tục, chủ doanh nghiệp tư nhân phải thông báo bằng văn bản về thời điểm và thời hạn tạm ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Việc thông báo này không chỉ giúp cơ quan có thẩm quyền quản lý hoạt động của doanh nghiệp mà còn giúp doanh nghiệp được miễn, giảm thuế trong thời gian doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động.

Trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, doanh nghiệp phải nộp đủ số thuế còn nợ, tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện hợp đồng đã đăng ký với khách hàng và người lao độn, trừ trường hợp doanh nghiệp chủ nợ, khách hàng và người lao động có thỏa thuận khác.

Thứ năm, chủ doanh nghiệp tư nhân tự quyết định tăng giảm vốn điều lệ trong doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với Cơ quan đăng ký kinh doanh đối với trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký. Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Khi tăng vốn điều lệ, chủ doanh nghiệp tư nhân sẽ phải tự bỏ thêm vốn đầu tư.

2 Quy định về nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp với người làm công , với cơ quan thuế và nghĩa vụ bảo hiểm xã hội

2.1 Đối với người làm công

- Tuyển dụng.
Khi tuuyển dụng người làm công hoặc hủy bỏ hợp đồng, phải báo cho cơ quan phụ trách về việc làm biết trong hạn 48 giờ, và bằng thư bảo đảm.
Người nước ngoài chỉ được tuyển dụng nếu họ có thẻ căn cước có ghi: "người lao động".
- Sổ sách.
Người sử dụng lao động phải giữ cập nhật một quyển sổ về nhân sự ghi rõ tên, họ, tuổi, giới tính, địa chỉ, nghề, ngày vào làm và ngày thôi việc của mọi người làm công.
Ngoài ra, còn phải có mộtt sổ lương ghi lại những chl tiêt nêu trong tờ phiếu trả lương
- Thời gian lao động.
về nguyên tắc, thời gian lao động là 39 giờ trong một tuân (dụ ngày 16-1-1982). Nếu vượt qua thời gian đó thì phải trả công những giờ làm thêm.
- Tai nạn lao động.
Khi có tai nạn xảy ra trong lao động hoặc trong khi thực hiện một công việc thì trong hạn 48 giờ, người sử dụng lạo động phải khai báo theo mẫu do qũy sơ cấp bảo hiểm lao động phát.
- Hủy hợp đồng lao động. ;
Khi ngưòi làm công thôi việc, người sử dụng lao động phải giao cho người đó một chứng chỉ lao động.
Trừ trường hợp lời nặng, ngưòi lao động bị buộc thôi việc phải được báo trước 1 tháng, nếu họ đã làm việc được ít nhất 6 tháng. Nếu họ đã làm việc được 2 năm thì phải báo trước 2 tháng. .
Người bị buộc thôi việc phải được hưởng một khoản phụ cấp về ngày nghỉ được quy định có trả lương,, và khi có đủ điều kiện thì được hưởng phụ Cấp buộc thôi việc.
Nếu bị buộc thôi việc không có lý do chính đáng và hợp pháp thì họ có quyền đòi bồi thường.
Người đại diện thương mại ngoài ra còn được hưởng khoản phụ cấp về tìm kiếm khách hàng, nếu họ có đủ điều kiện.

2.2 Nghĩa vụ đối với cơ quan thuế

Trong vòng tháng giêng hàng năm, người sử dụng lao động phải làm tờ khai với sở thuế trực thu về số tiền công, tiền thưởng đã trả cho mỗi người lao động trong năm trước)

2.3 Nghĩa vụ về bảo hiểm xã hội

- Người sử dụng lao động phải xin đăng ký ỏ bảo hiểm xã hội trong.thời hạn 8 ngày, tính từ ngày khai trương hoặc ngày mua doanh nghiệp, dù doanh nghiệp không tuyển người làm công, hoặc có tuyển người lầm công thì tính từ ngày tuyển ngưòi làm công đầu tiên.
- Trong thòi hạn 8 ngày kể từ ngày tuyển dụng một ụgưòi, người sử dụng lao động phải đề nghị ghi tên người đó vào Qũy sơ cấp bảo hiểm xã hội, trừ trường hợp người đó đã được ghi trong qũy rồi.
- Neu sử dụng dưới 10 người làm công thì trong 15 ngày đâu của mỗi qúy, người sử dụng lao động phải nộp vào qũy sơ cấp bảo hiểm xã hội tiền đóng bảo hiểm, bao gồm phần dóng , góp của chủ và phần tiền lương của người lao động được giữ lạị để đóng góp. Trong những trường hợp khác thì phải nộp tiền đóng góp trong thời hạn 15 ngày đầu của mỗi tháng.
- Trước ngày 1 tháng hai mỗi năm, người sử dụng lao động phải khai với cơ quan bảo hiểm xã hội vung tổng số tiền

3 Quy định về doanh nghiệp tư nhân và mối quan hệ giữa Chủ DNTN và doanh nghiệp tư nhân

3.1 Quy định chung về doanh nghiệp tư nhân

Căn cứ vào điều 183 luật doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp tư nhân được hiểu như sau:

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

* Doanh nghiệp tư nhân có đặc điểm sau

Khi thành lập doanh nghiệp tư nhân, nhà đầu tư phải nắm được những đặc điểm của loại hình doanh nghiệp này để có sự lựa chọn đúng đắn.
Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ
Doanh nghiệp tư nhân không xuất hiện sự góp vốn giống như ở các công ty nhiều chủ sở hữu, nguồn vốn của DN cũng chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân duy nhất.
Về quan hệ sở hữu vốn trong Doanh nghiệp
Nguồn vốn ban đầu của Doanh nghiệp tư nhân xuất phát chủ yếu từ tài sản của chủ Doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, chủ Doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư, chỉ phải khai báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh trong trường hợp giảm vốn xuống dưới mức đã đăng kí. Vì vậy, không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh của Doanh nghiệp Tư nhân và phần còn lại thuộc sở hữu của chủ Doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là không thể tách bạch tài sản của chủ Doanh nghiệp Tư nhân và tài sản của chính Doanh nghiệp Tư nhân đó.
Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lí
Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, vì vậy cá nhân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Doanh nghiệp tư nhân. Chủ Doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhâ
Về phân phối lợi nhuận
Vấn đề phân chia lợi nhuận không đặt ra đối với Doanh nghiệp tư nhân bởi Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ sở hữu và toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp sẽ thuộc về một mình chủ Doanh nghiệp. Tuy nhiên điều đó cũng có nghĩa là cá nhân duy nhất đó sẽ có nghĩa vụ chịu mọi rủi ro trong kinh doanh.
Doanh nghiệp Tư nhân không có tư cách pháp nhân
Một pháp nhân phải có tài sản riêng, tức phải có sự tách bạch giữa tài sản của pháp nhân đó với những người tạo ra pháp nhân. Doanh nghiệp Tư nhân không có sự độc lập về tài sản vì tài sản của Doanh nghiệp Tư nhân không độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ Doanh nghiệp Tư nhân.
Chủ Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động
Do tính chất độc lập về tài sản không có nên chủ Doanh nghiệp Tư nhân – người chịu trách nhiệm duy nhất trước mọi rủi ro của Doanh nghiệp sẽ phải chịu chế độ trách nhiệm vô hạn. Chủ Doanh nghiệp Tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong phạm vi phần vốn đầu tư đã đăng kí mà phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản trong trường hợp phần vốn đầu tư đã đăng kí không đủ.

3.2 Mối quan hệ giữa chủ DNTN và DNTN

Có thể nói, mối quan hệ giữa Chủ DNTN và doanh nghiệp là mối quan hệ gắn kết không tách rời. Doanh nghiệp tư nhân chỉ có duy nhất một cá nhân cụ thể là chủ sở hữu. Nếu có sự thay đổi từ cá nhân này sang cá nhân khác thì Doanh nghiệp tư nhân đó về bản chất phải chấm dứt sự tồn tại. Như trong trường hợp bán Doanh nghiệp tư nhân, người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại. Nếu có sự thay đổi về số lượng chủ sở hữu thì Doanh nghiệp tư nhân đó cũng phải chấm dứt sự tồn tại.
Cá nhân Chủ DNTN mà chết, mất tích hoặc rơi vào các trường hợp bị cấm thành lập quản lý doanh nghiệp (không còn chủ sở hữu đủ điều kiện) thì Doanh nghiệp tư nhân phải giải thể doanh nghiệp. Trường hợp Chủ DNTN chết, người thừa kế (nếu có) chỉ được hưởng thừa kế về tài sản chứ không được thừa kế tư cách chủ sở hữu DNTN. Nếu chỉ có một người thừa kế và người này muốn tiếp tục duy trì khai thác khối tài sản trong doanh nghiệp bằng hoạt động kinh doanh dưới hình thức Doanh nghiệp tư nhân thì phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh lại.
Nếu số lượng chủ sở hữu tăng lên hơn một, thì phải làm thủ tục chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân sang hình thức Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết , Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!