và viện kiểm sát biết việc thi hành án được giải quyết như thế nào để kiểm sát việc thực hiện. Vì vậy, để tổ chức thi hành án dân sự thì cơ quan thi hành án dân sự phải tiến hành thông báo và gửi quyết định thi hành án cho các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án và viện kiểm sát. Hiện nay, việc thông báo thi hành án dân sự được quy định tại các điều từ Điều 38 đến Điều 43 Luật thi hành án dân sự và Điều 12 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định của Chính phủ số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 và Điều 2 Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự. Theo khoản 5 Điều 55 Nghị định của Chính phủ số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại, trong trường hợp văn phòng thừa phát lại tổ chúc thi hành án dân sự thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án cùa thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại đề nghị phải gửi quyết định thi hành án đó cho người được thi hành án, người phải thi hành án, viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án. Nội dung

- Thời hạn thực hiện việc thông báo là 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc Thi hành án.

- Thủ tục thông báo thi hành án dân sự (Xem thêm Điều 2 Thông tư liên tịch cùa Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thù tục thi hành án dân |sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự).

+ Nếu thông báo trực tiếp thì chấp hành viên, công chức làm công tác Thi hành án giao văn bản cho người được thông báo thi hành án. Trường hợp người được thông báo là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức đó và phải được người này kí nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn bản thông báo thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người này và phải được họ kỉ nhận văn bản thông báo.

Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thay đổi về địa chỉ liên lạc thì phải kịp thời thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tổ chức thi hành án biết để thực hiện việc thông báo theo địa chỉ mới. Nếu đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan thi hành án dân sự thì việc thông báo theo địa chỉ được xác định trước đó được coi là hợp lệ.

Trường hợp đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu được nhận thông báo bằng điện tín, fax, email hoặc hình thức khác thì việc thông báo trực tiếp có thể thực hoặc cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo. Để xác định việc đã niêm yết vãn bản thông báo, cơ quan thực hiện việc thông báo phải lập biên bản về việc niêm yết công khai vãn bản thông báo, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết, số, ngày, tháng, năm, tên của văn bản thông báo' và có chữ kí của người chứng kiến. Thời gian niêm yết công khai văn bản thông báo là 10 ngày, kể từ ngày niêm yết.

+ Việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi đương sự có yêu cầu. Trường hợp xác định đương sự đang có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của địa phương đó hai lần trong 02 ngày liên tiếp. Trường hợp xác định đương sự không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.

Ngoài ra, việc thông báo có thể được thực hiện công khai trên trang thông tin điện tử của cục thi hành án dân sự, cổng thông tin điện tử của Tổng cục thi hành án dân sự thuộc Bộ tư pháp.

- Ngày được thông báo hợp lệ là ngày kí nhận văn bản thông báo, ngày niêm yết văn bản hoặc ngày thực hiện việc thông báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng.

hành án. Việc cơ quan thi hành án dân sự xác minh điểu kiện thi hành án được quy định tại Điều 44 Luật thi hành án dân sự, Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 và Điều 3 Thông tư liên tịch của Bộ tư pháp, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao số 11/2016/TTLT-BTP- TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự. Theo các quy định này, trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án, chấp hành viên phải tiến hành việc xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải xác minh ngay.

>> Xem thêm:  Tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu ? Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu

Trong xác minh điều kiện thi hành án, chấp hành viên có các quyền và nghĩa vụ sau:

- Xuất trình thẻ chấp hành viên;

- Xác minh cụ thể tài sản, thu nhập, các điều kiện khác để thi hành án; đối với tài sản phải đăng kí quyền sở hữu, sử dụng hoặc đăng kí giao dịch bào đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan có chức năng đăng kí tài sản, giao dịch đó;

- Trên địa bàn cấp tỉnh nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở. Khi thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án, thừa phát lại cũng có quyền xác minh ngoài địa bàn cấp tình nơi văn phòng thửa phát lại đặt trụ sở. Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền thỏa thuận với văn phòng thừa phát lại về việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án kể cả trong trường hợp vụ việc đỏ đang do cơ quan thi hành án dân sự trực tiếp tổ chức Thi hành. Việc xác minh điều kiện Thi hành án của thừa phát lại được thực hiện trực tiếp hoặc bằng văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin như trường hợp chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án. Ngoài ra, các quy định khác của pháp luật thi hành án dân sự về chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án cũng được áp dụng trong việc thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án. Ngày nhận được vãn bản yêu cầu của chấp hành viên, đối với thông tin về tài khoản thì phải cung cấp ngay;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang nắm giữ thông tin hoặc quản lí tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trờ ngại khách quan; trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp thì phải có vãn bản trả lời và nêu rõ lí do;

- Trường hợp người được thi hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.

Khi tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án. Nội dung kê khai phải nêu rõ loại, số lượng tiền, tài sản hoặc quyền tài sản; tiền mặt, tiền trong tài khoản, tiền đang cho vay, mượn; giá trị ước tính và tình trạng của từng loại tài sản; mức thu nhập định kì, không định kì, nơi trả thu nhập; địa chỉ, nơi cư trú của người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng; khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ thi hành án. Chấp hành viên cho lập biên bản xác minh điều kiện thi hành án. Nội dung biên bản phải nêu rõ việc đương sự kê khai hoặc không kê khai tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án. Trường hợp người phải thi hành án không kê khai hoặc phát cần thiết khác. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy quyền phải chịu trách nhiệm về kết quả xác minh theo nội dung ủy quyền, trả lời bằng văn bản kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền xác minh. Đối với việc xác minh tài sản là bất động sản, động sản phải đăng kí quyền sở hữu, sử dụng thời hạn trả lời kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền. Trường hợp việc xác minh tài sản khó khăn, phức tạp thì thời hạn gửi kết quả xác minh có thể kéo dài nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền. Đối với việc xác minh các loại tài sàn và thông tin khác, thời hạn gửi kết quả xác minh cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy quyền là 15 ngày, kể từ ngày nhận được ủy quyền. Xem: Khoản 6 Điều 1 Nghị định của Chỉnh phủ số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/07/2015 của Chính phù quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự.

Ngoài ra, người được thi hành án cũng có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điêu kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp chấp hành viên thấy cần thiết hoặc kết quả xác minh của chấp hành viên và người được thi hành án khác nhau hoặc có kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân thì phải xác minh lại. Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của viện kiểm sát nhân dân.

Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, thủ trưởng án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Khi nhận được văn bản của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản chấp hành viên phải tiến hành xác minh.

Cơ quan thi hành án dân sự chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hấnh án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ khi có đù các điều kiện sau:

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn khởi kiện vụ án dân sự, đại diện tranh tụng tại Toà án

- Đã hết thời hạn 02 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án đối với trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù mà thời giạn chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trợ lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án hoặc đã hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày ra quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án;

- Đã xác minh ít nhất hai lần theo quy định tại khoản 2 Điều 44 Luật thi hành án dân sự;

- Không có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Sau khi có quyết định về việc chưa có điều kiện thi hành án, chuyển sang sổ theo dõi riêng đối với việc chưa có điều kiện thi hành án. Khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án trở lại thì cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án.

định khác. Khi chấp hành viên đã quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án thì không được áp dụng biện pháp tự nguyện thi hành án nữa. Tuy nhiên, nếu sau khi có quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án nhưng chưa tổ chức cưỡng chế mà đương sự lại tự nguyện thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ thì chấp hành viên có thể chấp nhận.

Theo quy định tại Điều 45 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, trừ trường hợp cần ngăn chặn việc họ tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án. Vì vậy, chấp hành viên phải cho người phải thi hành án một thời hạn để họ tự nguyện thi hành án. Tuy vậy, không phải trong tất cả mọi trường hợp chấp hành viên đều phải ấn định thời hạn tự nguyện thi hành án cho người phải thi hành án và thời hạn này không nhất thiết cứ phải là 10 ngày mà tuỳ từng vụ việc và trường hợp cụ thể, chấp hành viên cân nhắc quyết định cho thích hợp. Đối với vụ việc thi hành đơn giản, người phải thi hành án có điều kiện để thực hiện ngay nghĩa vụ thi hành án của họ thì chấp hành viên có thể ấn định thời hạn tự nguyện ngắn hơn 10 ngày. Ngược lại, đối với những vụ việc phức tạp, sô tiền phải thi hành án lớn, người phải thi hành án chưa thể có ngay điều kiện thi hành án thì chấp hành viên sẽ ấn định thời hạn tự nguyện thi hành án dài hơn nhưng tối đa là 10 ngày. Đối với trường hợp người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì chấp hành viên không để cho họ thời hạn tự nguyện thi hành án mà áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật để thi hành án.

biện pháp thi hành án này thường không có hiệu quả mà nhiều khi tác dụng còn ngược lại. Vì vậy, trong những trường hợp cần thiết, để bảo đảm hiệu quả thi hành án cùng với việc áp dụng biện pháp tự nguyện thi hành án, chấp hành viên phải áp dụng cả biện pháp cưỡng chế thi hành án. Theo quy định tại Điều 45 và Điều 46 Luật thi hành án dân sự thì chấp hành viên được áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau:

- Hết thời hạn tự nguyện thi hành án do chấp hành viên ấn định mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành án không tự nguyện thi hành.

- Cần phải ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án của người phải thi hành án.

Thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 70 đến Điều 121 Luật thi hành án dân sự và từ Điều 21 đến Điều 31 Nghị định của Chính phủ số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định của Chính phủ số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020.

>> Xem thêm:  Thủ tục thi hành quyết định về phá sản ? Thi hành án khi doanh nghiệp pháp sản ?

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật dân sự, luật thi hành án dân sự. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến. Đội ngũ luật sư luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi vướng mắc của Bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bảo quản tài sản kê biên trong tố tụng là gì ? Kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án