1. Các tiêu chuẩn mà người hiến máu nhân đạo cần đáp ứng?
Căn cứ theo Điều 4 của Thông tư 26/2013/TT-BYT, các tiêu chuẩn về người hiến máu được quy định như sau:
- Tuổi: từ 18 đến 60 tuổi.
- Sức khỏe:
+ Cân nặng: Phụ nữ phải có cân nặng ít nhất là 42 kg, nam giới là 45 kg để hiến máu toàn phần. Nếu cân nặng từ 42 kg đến dưới 45 kg, được phép hiến máu toàn phần không quá 250 ml mỗi lần; cân nặng 45 kg trở lên được phép hiến máu toàn phần không quá 09 ml/kg cân nặng và không quá 500ml mỗi lần.
+ Hiến thành phần máu: Cân nặng ít nhất là 50 kg được phép hiến các thành phần máu bằng phương pháp gạn tách; tổng thể tích các thành phần máu hiến không quá 500 ml; cân nặng ít nhất là 60 kg được phép hiến tổng thể tích các thành phần máu không quá 650 ml mỗi lần.
+ Không mắc các bệnh mạn tính hoặc cấp tính về nhiều lĩnh vực khác nhau như thần kinh, tâm thần, hô hấp, tuần hoàn, tiết niệu, tiêu hoá, gan mật, nội tiết, máu và tổ chức tạo máu, bệnh hệ thống, bệnh tự miễn, tình trạng dị ứng nặng; không mang thai (đối với phụ nữ); không có tiền sử lấy, hiến, ghép bộ phận cơ thể người; không nghiện ma túy, rượu; không có khuyết tật nặng và khuyết tật đặc biệt nặng theo quy định của Luật Người khuyết tật; không sử dụng một số loại thuốc được quy định tại Phụ lục 1 của Thông tư này; không mắc các bệnh lây truyền qua đường máu, qua đường tình dục tại thời điểm hiến máu.
+ Kiểm tra lâm sàng: Trạng thái tỉnh táo, tiếp xúc tốt; huyết áp ổn định trong khoảng từ 100 mmHg đến dưới 160 mmHg (tâm thu) và từ 60 mmHg đến dưới 100 mmHg (tâm trương); nhịp tim đều, tần số từ 60 lần đến 90 lần/phút; không có các dấu hiệu như gầy, sút cân nhanh, da xanh, niêm mạc nhợt, hoa mắt, chóng mặt, vã mồ hôi, hạch to, sốt, phù, ho, khó thở, tiêu chảy, xuất huyết, tổn thương, dấu hiệu bất thường trên da.
+ Xét nghiệm: Đối với hiến máu toàn phần và hiến thành phần máu bằng gạn tách, nồng độ hemoglobin phải đạt ít nhất là 120 g/l; nếu hiến máu toàn phần thể tích trên 350 ml phải đạt ít nhất 125 g/l. Đối với hiến huyết tương bằng gạn tách, nồng độ protein huyết thanh toàn phần phải đạt ít nhất 60g/l và được xét nghiệm trong thời gian không quá 01 tháng; Đối với hiến tiểu cầu, bạch cầu hạt, tế bào gốc bằng gạn tách, số lượng tiểu cầu phải lớn hơn hoặc bằng 150´109/l.
Ngoài các tiêu chuẩn quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 của Điều này, việc được hiến máu phụ thuộc vào sự đánh giá và quyết định của bác sĩ sau khi thăm khám.
2. Quy định về khoảng thời gian tối thiểu giữa các lần hiến máu
Dựa trên Điều 6 của Thông tư 26/2013/TT-BYT, quy định về khoảng thời gian ít nhất giữa các lần hiến máu và các thành phần máu như sau:
- Khoảng thời gian ít nhất giữa hai lần liên tiếp hiến máu toàn phần hoặc khối hồng cầu bằng phương pháp gạn tách là 12 tuần. Điều này nhằm đảm bảo sức khỏe và phục hồi đủ cho người hiến máu trước khi họ có thể hiến tiếp.
- Khoảng thời gian ít nhất giữa hai lần liên tiếp hiến huyết tương hoặc hiến tiểu cầu bằng gạn tách là 02 tuần. Khoảng thời gian này cũng nhằm đảm bảo rằng người hiến máu có thời gian phục hồi đủ trước khi hiến máu lần tiếp theo, giúp duy trì sức khỏe và an toàn cho cả người hiến máu và người nhận máu.
- Hiến bạch cầu hạt trung tính hoặc hiến tế bào gốc bằng gạn tách máu ngoại vi được thực hiện tối đa không quá ba lần trong 07 ngày. Điều này nhằm đảm bảo an toàn và giảm thiểu tác động đến sức khỏe của người hiến máu, vì các quy trình này có thể đòi hỏi một số lượng lớn tế bào máu được lấy ra từ người hiến máu.
- Trong trường hợp xen kẽ hiến máu toàn phần và hiến các thành phần máu khác nhau từ cùng một người hiến máu, khoảng thời gian ít nhất giữa các lần hiến sẽ được xem xét theo loại thành phần máu đã hiến trong lần gần nhất. Điều này là quan trọng để đảm bảo rằng người hiến máu có thời gian phục hồi đủ trước khi tiếp tục hiến máu, và cũng nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả của quá trình hiến máu.
Do đó, khoảng thời gian ít nhất giữa các lần hiến máu và các thành phần máu thay đổi từ 7 ngày đến 12 tuần tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
3. Trường hợp phải trì hoãn hiến máu theo quy định pháp luật hiện hành?
Các trường hợp phải trì hoãn hiến máu được chi tiết trong Điều 5 của Thông tư 26/2013/TT-BYT như sau:
- Trì hoãn trong 12 tháng kể từ thời điểm: Phục hồi hoàn toàn sau các can thiệp ngoại khoa; Khỏi bệnh sau khi mắc một trong các bệnh như sốt rét, giang mai, lao, uốn ván, viêm não, viêm màng não; Kết thúc đợt tiêm vắc xin phòng bệnh dại sau khi bị động vật cắn hoặc tiêm, truyền máu, chế phẩm máu và các chế phẩm sinh học nguồn gốc từ máu; Sinh con hoặc chấm dứt thai nghén. Các trường hợp này đều đòi hỏi một khoảng thời gian chờ để đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người hiến máu và người nhận máu.
- Trì hoãn trong 06 tháng kể từ thời điểm: Xăm trổ trên da; Bấm dái tai, bấm mũi, bấm rốn hoặc các vị trí khác của cơ thể; Phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể từ người có nguy cơ hoặc đã nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu; Khỏi bệnh sau khi mắc một trong các bệnh như thương hàn, nhiễm trùng huyết, bị rắn cắn, viêm tắc động mạch, viêm tắc tĩnh mạch, viêm tuỷ xương, viêm tụy. Việc này giúp đảm bảo rằng vùng da đã được xăm trổ đã phục hồi hoàn toàn và không có nguy cơ lây nhiễm hoặc các vấn đề khác. Điều này là để đảm bảo vết thương từ quá trình bấm không còn có nguy cơ lây nhiễm hoặc gây ra vấn đề nào khi hiến máu. Nếu đã phơi nhiễm với máu và dịch cơ thể từ người có nguy cơ hoặc đã nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu, bạn cần chờ ít nhất 6 tháng trước khi hiến máu. Điều này là để đảm bảo an toàn cho người nhận máu và để đảm bảo rằng bạn không có nguy cơ lây nhiễm các bệnh này. Trường hợp đã mắc bất kỳ một trong các bệnh nêu trên và đã hoàn toàn khỏi bệnh, bạn phải chờ ít nhất 6 tháng trước khi được phép hiến máu. Điều này là để đảm bảo rằng bạn đã phục hồi hoàn toàn và không có nguy cơ lây nhiễm khi hiến máu.
- Trì hoãn trong 04 tuần kể từ thời điểm: Khỏi bệnh sau khi mắc một trong các bệnh như viêm dạ dày ruột, viêm đường tiết niệu, viêm da nhiễm trùng, viêm phế quản, viêm phổi, sởi, ho gà, quai bị, sốt xuất huyết, kiết lỵ, rubella, tả, quai bị. Nếu bạn đã mắc bất kỳ một trong các bệnh trên và đã hoàn toàn khỏi bệnh, bạn cần chờ ít nhất 4 tuần trước khi hiến máu. Điều này đảm bảo rằng hệ miễn dịch của bạn đã đủ mạnh mẽ để không gây nguy cơ lây nhiễm cho người nhận máu. Sau khi kết thúc đợt tiêm vắc xin phòng các bệnh như rubella, sởi, thương hàn, tả, quai bị, thủy đậu, BCG, bạn cần chờ ít nhất 4 tuần trước khi được phép hiến máu. Việc này giúp đảm bảo vắc xin đã có thời gian để phát huy hiệu quả và không gây ra tác động tiêu cực khi hiến máu.
- Trì hoãn trong 07 ngày kể từ thời điểm: Khỏi bệnh sau khi mắc một trong các bệnh như cúm, cảm lạnh, dị ứng mũi họng, viêm họng, đau nửa đầu Migraine. Tiêm các loại vắc xin, trừ các loại đã được quy định tại Điểm c Khoản 1 và Điểm b Khoản 3 Điều này.
Các người làm các công việc và thực hiện các hoạt động đặc thù chỉ được hiến máu trong ngày nghỉ hoặc sau ít nhất 12 giờ sau khi hiến máu. Đối với các trường hợp không thuộc các quy định trên, việc trì hoãn hiến máu sẽ được xác định bởi bác sĩ sau khi thăm khám và đánh giá.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Giấy chứng nhận hiến máu của mình có dùng được cho người khác không?
Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!