Tuy vậy, cùng với phân quyền và phân cấp, đây cũng là một trong những “nguồn” hình thành phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chính quyền địa phương. Theo quy định tại Điều 14 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, cơ chế ủy quyền có các nội dung sau.

- Về chủ thể ủy quyền: Khác với phân quyền và phân cấp, chủ thể ủy quyền chỉ có thể là cơ quan hành chính nhà nước cấp ưên chứ không thể là Quốc hội hay một cấp chính quyền địa phương nào đó. (Khoản 4 Điều 13 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Khoản 1 Điều 14 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Như vậy, chủ thể ủy quyền phải là cơ quan hành chính nhà nước trong hệ thống hành chính nhà nước, bao gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các ủy ban nhân dân ở cấp tỉnh, huyện và các cơ quan hành chính nhà nước khác có thể được Quốc hội hoặc Chính phủ thành lập. Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước song đã là cấp thấp nhất trong hệ thống hành chính nhà nước của quốc gia nên không thể là chủ thể ủy quyền.

- Về chủ thể nhận ủy quyền: Có các loại chủ thể sau có thể nhận ủy quyền: Ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, cơ quan chuyên môn hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc cùng cấp với ủy ban nhân dân là chủ thể ủy quyền, Phó chủ tịch ủy ban nhân dân hoặc người đứng đầu cơ quan chuyên môn cùng cấp với Chủ tịch ủy ban nhân dân là chủ thể ủy quyền, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp của Chủ tịch ủy ban nhân dân là chủ thể ủy quyền. Khoản 1 Điều 14 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Quy định ủy ban nhân dân cấp dưới là chủ thể nhận ủy quyền cho thấy Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 thực sự xem ủy quyền là cơ chế để cấp trên giao công việc cho cấp dưới trong hệ thống hành chính nhà nước. Luật sửa đổi, bổ sung năm 2019 cũng quy định việc ủy quyền phải được thực hiện tuần tự theo cấp hành chính, theo đó cơ quan hành chính nhà nước cấp trên chỉ được ủy quyền cho ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiếp, ủy ban nhân dân chỉ được ủy quyền cho cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc, Chủ tịch ủy ban nhân dân có thể ủy quyền cho Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp, người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cùng cấp, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp dưới trực tiểp thực hiện một hoặc một số nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể. Việc ủy quyền phải được thể hiện bằng văn bản.

- Về nội dung của ủy quyền: Giống như đối với phân quyền và phân cấp, pháp luật hiện hành cũng không có quy định cụ thể nội dung công việc nào, nhiệm vụ, quyền hạn nào có thể được ủy quyền. Khoản 1 Điều 14 chỉ quy định cơ quan hành chính nhà nước cấp trên có thể ủy quyền “trong trường hợp cần thiết”, song cũng không quy định rõ trường hợp cần thiết là những trường hợp nào. Như vậy, có thể hiểu phạm vi ủy quyền có thể bao gồm bất cứ lĩnh vực nào chủ thể ủy quyền có lý do hợp lí để thực hiện việc ủy quyền.

- Về cơ chế ttách nhiệm: Cơ chế trách nhiệm đối với công việc được ủy quyền cũng là cơ chế song trùng giống cơ chế phân cấp. Theo đó, chủ thể ủy quyền, tức là cơ quan hành chính nhà nước cấp trên, chịu trách nhiệm chính đối với kết quả thực hiện công việc, nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền. Chủ thể nhận ủy quyền, tức là người trực tiếp thực hiện công việc được ủy quyền, chỉ chịu trách nhiệm trước chủ thể đã ủy quyền công việc cho mình (Khoản 2, 3 Điều 14 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Như vậy, có thể hiểu chủ thể ủy quyền chịu trách nhiệm về việc công việc ủy quyền thực hiện xong có đem lại hiệu quả như mong muốn hay không, còn chủ thể nhận ủy quyền chịu trách nhiệm về việc thực hiện đúng nội dung công việc, nhiệm vụ, quyền hạn đã ủy quyền cho mình.

- Về điều kiện tiến hành ủy quyền: Điều kiện để tiến hành ủy quyền có một số điểm giống nhau và khác nhau với điều kiện tiến hành phân cấp. về điểm giống nhau, để tiến hành ủy quyền cũng đòi hỏi nhiệm vụ, quyền hạn được ủy quyền phải là nhiệm vụ, quyền hạn mà pháp luật đã quy định cho chủ thể ủy quyền. Chủ thể ủy quyền không thể ủy quyền cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn mà ngay từ đầu đã không thuộc về mình. Bên cạnh đó, chủ thể ủy quyền phải bảo đảm các nguồn lực, điều kiện cần thiết khác đồng thời hướng dẫn, kiểm tra để chủ thể nhận ủy quyền thực hiện tốt công việc được ủy quyền. Việc ủy quyền cũng phải được thực hiện bằng văn bản do chủ thể ủy quyền ban hành. Tuy nhiên, hình thức của văn bản ủy quyền không bắt buộc là văn bản quy phạm pháp luật như đối với phân quyền và phân cấp. Điều kiện thời gian là một điểm khác quan trọng của điều kiện tiến hành ủy quyền. Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định việc ủy quyền chỉ được thực hiện trong “khoảng thời gian xác định kèm theo các điều kiện cụ thể” - Khoản 1,2 Điều 14 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Khoản 1 Điệu 14 Luật tộ chức chính quyền địa phương năm 2015. Luật này không quy định rõ các điều kiện cụ thể là những điều kiện gì, song nhất thiết việc ủy quyền thực hiện công việc chỉ là có thời hạn và chủ thể ủy quyền phải chỉ rõ thời hạn đó trong văn bản ủy quyền. Với điều kiện này, dường như Luật năm 2015 đã phân biệt các trường hợp áp dụng phân cấp và ủy quyền trong hệ thống hành chính nhà nước, theo đó phân cấp áp dụng khi giao công việc thực hiện một cách thường xuyên, liên tục còn ủy quyền được áp dụng khi giao công việc thực hiện có thời hạn.

- Về vấn đề ủy quyền tiếp: Pháp luật hiện hành quy định rất rõ chủ thể nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho chủ thể khác thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đã được ủy quyền cho mình (Khoản 3 Điều 14 Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015). Có thể hiểu là việc ủy quyền tiếp không được phép ngay cả khi chủ thể ủy quyền đồng ý với việc ủy quyền tiếp. Cơ chế ủy quyền, như vậy, xác định rõ “địa chỉ” chịu trách nhiệm thực hiện công việc ủy quyền và đòi hỏi chủ thể ủy quyền phải chọn đúng cơ quan phù hợp với công việc đem ủy quyền.

Như vậy, qua các nội dung của ủy quyền trình bày trên đây, có thể định nghĩa khái quát ủy quyền là việc cơ quan hành chính nhà nước cẩp trên giao công việc thuộc trách nhiệm của mình cho cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới nhất định thực hiện trong một thời hạn xác định theo cơ chế trách nhiệm song trùng.

Năm 2015 vẫn tiếp tục quy định áp dụng một cách đồng phục mô hình Hội đồng - ủy ban ở tất cả các đơn vị hành chính của Việt Nam.

Dưới đây trình bày những điểm chung nhất và cũng là cơ bản nhất về Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân ở tất cả các cấp đơn vị hành chính của Việt Nam, bao gồm vị trí, tính chất, chức năng, cơ cấu tổ chức và chế độ làm việc của các cơ quan đó.

Trước tiên, cần lưu ý rằng tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương theo pháp luật hiện hành chịu sự điều chỉnh trực tiếp của khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)