Căn cứ Luật Xây Dựng năm 2014; Nghị định số 46/2015/NĐ-CP quy định về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng (sau đây viết là Nghị định 46/2015/NĐ-CP) và Thông tư số 26/2016/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng (gọi tắt là thông tư số 26/2016/TT-BXD), quy định:
1. Ngay sau khi xảy ra sự cố, bằng phương pháp nhanh nhất chủ đầu tư phải báo cáo tóm tắt về sự cố cho ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự cố và cơ quan cấp trên của mình, ủy ban nhân dân cấp xã ngay sau khi nhận được thông tin phải báo cáo cho ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh về sự cố.
Các nội dung chủ yếu báo cáo nhanh sự cố công trình xây dựng :
1. Tên công trình, vị trí xây dựng.
2. Tên các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình.
3. Mô tả sơ bộ về sự cố, tình trạng công trình xây dựng khi xảy ra sự cố, thời điểm xảy ra sự cố.
4. Thiệt hại sơ bộ về người và vật chất.
2. Trong vòng 24 giờ kể từ khi xảy ra sự cố, chủ đầu tư báo cáo về sự cố bằng văn bản tới ủy ban nhân dân cấp huyện và ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố. Đối với tất cả các loại sự cố, nếu có thiệt hại về người thì chủ đầu tư gửi báo cáo cho Bộ Xây dựng và các cơ quan quản lý nhà nước có thẳm quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
3. Sau khi nhận được báo cáo bằng văn bản hoặc nhận được thông tin về sự cố, ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm gửi báo cáo sự cố cho Bộ Xây dựng và Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đối với các sự cố sự cố cấp I và các sự cố khác có thiệt hại về người.
4. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền được quyền yêu cầu chủ đầu tư và các bên liên quan cung cấp thông tin về sự cố.
5. Trường hợp sự cố công trình xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết quy định pháp lý trên như sau:
1. Thế nào là sự cố công trình xây dựng?
Căn cứ quy định tại Khoản 34 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014 có quy định cụ thể về sự cố công trình xây dựng. Sự cố công trình xây dựng là hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn cho phép, làm cho công trình xây dựng hoặc kết cấu phụ trợ thi công xây dựng công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần hoặc toàn bộ trong quá trình thi công xây dựng và khai thác sử dụng công trình. Theo đó thì sự cố công trình xây dựng chính là việc một công trình xây dựng đang được thi công hoặc đang được sử dụng bị hư hại có nguy cơ xảy ra sự cố như sập đổ, gây mất an toàn có thể tạo ra thiệt hại về người và của. Việc xảy ra sự cố công trình xây dựng, không phải sự cố nào cũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng, nặng nề và cũng không phải sự cố nào cũng có thể lường trước được. Việc xảy ra sự cố công trình xây dựng xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau.
Theo quy định của pháp luật về khái niệm sự cố công trình xây dựng thì ta có thể phân loại các loại sự cố công trình xây dựng. Sự cố công trình xây dựng sập đổ là loại sự cố mà một bộ phận của công trình xây dựng hoặc toàn bộ công trình xây dựng trong quá trình thi công xây dựng bị sập đổ và dẫn đến việc phải tiến hành sửa chữa, dỡ bổ và xây dựng lại công trình. Đối với sự cố công trình về biến dạng thì là dạng sự cố có thể xảy ra một số trường hợp như nền móng hay kết cấu của công trình bị hư hỏng, cần được tiến hành sửa chữa, mức độ an toàn của công trình không được đảm bảo nên phải đưa vào sửa chữa lại những phần công trình bị hư hỏng. Trong trường hợp kết cấu của công trình hay một vị trí nào đó của công trình bị đặt sai vị trí, bị lệch so với thiết kế xây dựng khiến cho công trình không đảm bảo được sự an toàn khi tiến hành xây dụng thì đòi hỏi công trình phải sửa chữa lại mới có thể tiếp tục xây dựng và đưa vào sử dụng. Ngoài ra, còn có sự cố công trình xây dựng hay gặp phải là sự cố về công năng của công trình xây dựng không đạt được yêu cầu về độ an toàn, yêu cầu về tính thẩm mỹ,... khiến cho công trình xây dựng cần tiến hành sửa chữa, thay thế và điều chỉnh phù hợp với thiết kế và tiêu chuẩn xây dựng.
2. Phân cấp sự cố trong quá trình thi công, khai thác, sử dụng xây dựng
Sự cố công trình xây dựng được chia ra thành ba cấp khác nhau theo mức độ hư hại công trình hoặc thiệt hại về người, bao gồm sự cố cấp I, cấp II và sự cố cấp III cụ thể như sau:
- Sự cố cấp I bao gồm: Sự cố công trình xây dựng - đây là sự cố cấp cao nhất và sự cố công trình xây dựng này làm chết từ 06 người trở lên; Sự cố công trình xây dựng gây sập đổ công trình, sập đổ một phần công trình hoặc hư hỏng có nguy cơ gây sập đổ toàn bộ công trình cấp I trở lên;
- Sự cố công trình cấp II là sự cố công trình xây dựng làm chết từ 01 người - 05 người và sự cố công trình xây dựng cấp II gây sập đổ công trình; có thể là sập đổ một phần công trình hoặc hư hỏng có nguy cơ gây sập đổ toàn bộ công trình cấp II, cấp III;
- Sự cố công trình xây dựng cấp III sẽ bao gồm tất cả các loại sự cố còn lại và sẽ không bao gồm các sự cố ở sự cố công trình cấp I và sự cố công trình xây dựng cấp II.
3. Quy định về việc báo cáo sự cố công trình xây dựng
Căn cứ theo quy định tại Điều 44 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định rằng; ngay sau khi xảy ra sự cố, bằng biện pháp nhanh nhất chủ đầu tư phải thông báo về sự cố bao gồm thông tin về tên và vị trí xây dựng công trình, sơ bộ về sự cố và thiệt hại (nếu có) cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự cố và cơ quan cấp trên của mình (nếu có). Ngay sau khi nhận được thông tin thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải báo cáo cho bên phía Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về sự cố công trình xây dựng. Và trong vòng 24 giờ kể từ khi xảy ra sự cố, chủ đầu tư báo cáo về sự cố bằng văn bản tới Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố công trình xây dựng. Đối với tất cả các sự cố có thiệt hại về người thì chủ đầu tư cần phải gửi báo cáo sự cố công trình xây dựng cho Bộ xây dựng và cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan. Báo cáo sự cố công trình xây dựng bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
- Tên công trình, vị trí xây dựng, quy mô công trình;
- Tên các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình;
- Mô tả về sự cố, tình trạng công trình xây dựng khi xảy ra sự cố, thời điểm xảy ra sự cố;
- Thiệt hại về người và tài sản (nếu có).
Trong trường hợp với các sự cố công trình đi qua địa bàn 02 tỉnh trở lên, sau khi nhận được báo cáo bằng văn bản hoặc nhận được thông tin về sự cố thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra sự cố sẽ phải có trách nhiệm gửi báo cáo sự cố cho Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ được quyền yêu cầu phía chủ đầu tư và các bên liên quan cung cấp thông tin về sự cố. Trường hợp sự cố công trình xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
4. Hồ sơ báo cáo sự cố công trình xây dựng
Chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý và sử dụng công trình xây dựng sẽ có trách nhiệm phải lập hồ sơ báo cáo sự cố. Và hồ sơ báo cáo sự cố công trình xây dựng sẽ bao gồm các giấy tờ và nội dung sau đây:
- Biên bản kiểm tra hiện trường sự cố với các nội dung cụ thể như sau: tên công trình và các hạng mục công trình xảy ra sự cố, địa điểm xây dựng công trình và thời điểm xảy ra sự cố, mô tả sơ bộ và diễn biến sự cố, tình trạng công trình khi xảy ra sự cố, sơ bộ về tình hình thiệt hại về người và tài sản, sơ bộ về nguyên nhân sự cố công trình xây dựng;
- Các tài liệu về thiết kế và thi công xây dựng công trình liên quan đến sự cố theo quy định;
- Hồ sơ giám sát nguyên nhân sự cố công trình xây dựng;
- Các tài liệu liên quan đến quá trình giải quyết sự cố công trình xây dựng.
5. Khi gặp sự cố công trình xây dựng thì phải giải quyết như thế nào?
Theo quy định tại Nghị định số 06/2021 cụ thể là Điều 45 có quy định nội dung về việc giải quyết sự cố công trình xây dựng. Khi xảy ra sự cố thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng công trình có trách nhiệm thực hiện các biện pháp kịp thời để tìm kiếm, cứu hộ, bảo đảm án toàn cho người và tài sản, hạn chế và ngăn ngừa các nguy hiểm có thể tiếp tục xảy ra sự cố; tổ chức bảo vệ hiện trường sự cố và thực hiện báo cáo theo quy định của pháp luật về việc báo cáo sự cố công trình xây dựng. Ủy ban nhân dân các cấp chỉ đạo và hỗ trợ các bên có liên quan tổ chức lực lượng tìm kiếm cứu nạn, bảo vệ hiện trường sự cố và thực hiện các công việc cần thiết khác trong qua strinhf giải quyết sự cố. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chủ trì giải quyết sự cố công trình xây dựng và thực hiện các công việc sau đây:
- Xét xét, quyết định dừng hoặc tạm dừng thi công hoặc khai thác sử dụng đối với hạng mục công trình, một phần hoặc toàn bộ công trình tùy theo tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng của sự cố;
- Xem xét, quyết định dừng, tạm dừng thi công hoặc khai thác sử dụng đối với hạng mục công trình, một phần hoặc toàn bộ công trình tùy theo tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng của sự cố;
- Xem xét, quyết định về việc phá dỡ, thu dọn hiện trường sự cố trên cơ sở đáp ứng các yêu cầu sau: Đảm bảo an toàn cho người, tài sản, công trình và các công trình lân cận. Hiện trường sự cố phải được các bên liên quan chụp ảnh, quay phim, thu nhập chứng cứ, ghi chép các tư liệu cần thiết phục vụ công tác giám định nguyên nhân sự cố và lập hồ sơ sự cố trước khi phá dỡ, thu dọn;
- Thông báo kết quả giám định nguyên nhân sự cố cho chủ đầu tư, các chủ thể khác có liên quan; các yêu cầu đối với chủ đầu tư, chủ sở hữu hoăch các bên có liên quan phải thực hiện để khắc phục sự cố;
- Xử lý trách nhiệm của các bên có liên quan theo quy định của pháp luật;
- Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp huyện chủ trì giải quyết đối với sự cố công trình xây dựng cấp II, cấp III trên địa bàn;
Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng trong quá trình thi công xây dựng hoặc chủ sở, người quản lý, sử dụng công trình trong quá trình khai thác, sử dụng có trách nhiệm khắc phục sự cố theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi khắc phục sự cố thì cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật quyết định việc tiếp tục thi công hoặc đưa công trình vào sử dụng. Các tổ chức, cá nhân gây ra sự cố sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và chi phí cho việc khắc phục sự cố tùy theo tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng của sự cố. Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an quy định về báo cáo và giải quyết sự cố đối với công trình phục vụ quốc phòng, an ninh.
Trên đây là nội dung tư vấn mà công ty Luật Minh Khuê muốn gửi tới quý khách hàng. Nếu quý khách hàng có bất kỳ vướng mắc hay có câu hỏi pháp lý khác thì vui lòng liên hệ trực tiếp đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 qua số hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!