1. Xử phạt đối với hành vi làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề đấu giá

Người tham gia đấu giá, nếu có hành vi thao túng, biến đổi thông tin chứng chỉ hành nghề đấu giá sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật. Theo Điều 22 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ, các hình phạt cụ thể cho các vi phạm của đấu giá viên như sau:

- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với những người không đeo thẻ đấu giá viên trong quá trình điều hành cuộc đấu giá, vi phạm quy định của pháp luật.

- Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với những người tham gia đấu giá có hành vi tẩy xóa hoặc sửa chữa chứng chỉ hành nghề đấu giá, nhằm thay đổi thông tin trong chứng chỉ hoặc thẻ đấu giá được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền. Hành vi này vi phạm thỏa thuận của pháp luật đối với các tổ chức hoặc cá nhân liên quan đến hoạt động đấu giá tài sản, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của người thứ ba. Nếu người tham gia đấu giá biết về hành vi này mà không có hành động yêu cầu người tập sự hành nghề đấu giá, họ cũng sẽ bị xử phạt. Đồng thời, người hướng dẫn thực hiện thủ tục chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật về quá trình đấu giá tài sản trong quá trình tập sự cũng chịu trách nhiệm.

- Các đối tượng vi phạm quy định của pháp luật sẽ bị phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, trong trường hợp có những hành vi sau đây:

+ Không dừng cuộc đấu giá khi có đề nghị hoặc yêu cầu từ người sở hữu tài sản đấu giá về việc đấu giá viên có hành vi thông đồng hoặc kết hợp với các đối tượng khác để thao túng thông tin về tài sản đấu giá, thực hiện hành vi hạ giá tài sản đấu giá trái quy định pháp luật, hoặc làm sai lệch hồ sơ đấu giá và kết quả đấu giá tài sản.

+ Không dừng cuộc đấu giá khi có đề nghị hoặc yêu cầu từ người sở hữu tài sản đấu giá về hành vi thông đồng hoặc kết hợp với các đối tượng khác để hạ giá tài sản đấu giá trái quy định pháp luật. Hành vi này nhằm mục đích làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản, cản trở quá trình đấu giá hoặc tạo ra rối loạn tại các phiên đấu giá. Đồng thời, còn có hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép dưới mọi hình thức, hoặc đe dọa và cưỡng ép người tham gia đấu giá với mục đích làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản.

+ Truất quyền tham dự phiên đấu giá khi có căn cứ xác định rằng người tham gia đấu giá đã cung cấp thông tin tài liệu không chính xác, sử dụng giấy tờ giả mạo để đăng ký tham gia đấu giá, tham gia đấu giá với hành vi thông đồng và kết hợp với các đối tượng khác để hạ giá tài sản đấu giá và làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản. Ngoài ra, còn có hành vi cản trở quá trình đấu giá tài sản hoặc gây rối trật tự công cộng tại phiên đấu giá, cũng như đe dọa hoặc cưỡng ép đấu giá viên hoặc người tham gia đấu giá với mục đích làm sai lệch kết quả đấu giá tài sản.

+ Truất quyền tham dự cuộc đấu giá của những người có hành vi trả giá cao nhất rút lại giá mà đã trả hoặc người chấp nhận rút lại giá đã chấp nhận trước khi đấu giá viên công bố người trúng đấu giá trên thực tế.

+ Không trực tiếp điều hành cuộc đấu giá, nhưng vẫn thực hiện thủ tục ký biên bản đấu giá trái quy định pháp luật, hạn chế người tham gia đấu giá trong quá trình tham gia đấu giá, và điều hành cuộc đấu giá không tuân theo hình thức đấu giá được quy định bởi pháp luật và không phù hợp với quy chế của cuộc đấu giá đã được ban hành trước đó.

+ Hành vi điều hành cuộc đấu giá trong trường hợp chỉ có một người tham gia đấu giá, chỉ có một người trả giá và có một người chấp nhận giá không đảm bảo tính khách quan và vô tư, và không tuân theo quy định của pháp luật, tự xác định mức giá và điều hành cuộc đấu giá không tuân theo mức giá đã được công bố tại cơ quan có thẩm quyền.

Do đó, có thể khẳng định rằng, việc thực hiện hành vi làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề đấu giá sẽ chịu mức phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, như được phân tích ở trên.

2. Quy định về thẩm quyền xử phạt làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề đấu giá

Dựa trên quy định tại Điều 82 của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ, về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp được quy định cụ thể như sau:

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền xử phạt như sau: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 3.000.000 đồng đối với những đối tượng vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp và hôn nhân gia đình. Đồng thời, có thể áp dụng biện pháp tịch thu tang vật hoặc tịch thu phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không vượt quá mức phạt tiền đã nêu.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xử phạt như sau: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với những đối tượng vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực hành chính tư pháp và hôn nhân gia đình. Đồng thời, có thể áp dụng biện pháp tịch thu tang vật hoặc tịch thu phương tiện vi phạm hành chính có giá trị không quá mức phạt tiền đã nêu, và thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả khi cần thiết.

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt như sau: Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 30.000.000 đồng đối với những đối tượng vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực tư pháp và hôn nhân gia đình. Đối với vi phạm trong lĩnh vực phá sản doanh nghiệp và hợp tác xã, mức phạt có thể lên đến 40.000.000 đồng. Trong trường hợp vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, mức phạt có thể lên đến 50.000.000 đồng. Ngoài ra, chủ tịch cũng có thể ra quyết định đình chỉ hoạt động có thời hạn, tước quyền sử dụng giấy phép chứng chỉ hành nghề, giấy đăng ký hành nghề, thẻ tư vấn viên pháp luật, thẻ công chứng viên hoặc thẻ thừa phát lại, thẻ cộng tác viên trợ giúp pháp lý, cùng việc tịch thu tang vật hoặc tịch thu phương tiện vi phạm hành chính. Các biện pháp khắc phục hậu quả cũng sẽ được áp dụng khi cần thiết.

Do đó, có thể kết luận rằng, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này thuộc về chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện.

3. Làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề đấu giá có bị thu hồi chứng chỉ?

Pháp luật hiện nay đã đề ra những quy định rõ ràng về việc thu hồi chứng chỉ hành nghề đấu giá. Theo quy định tại Điều 16 của Luật đấu giá tài sản năm 2016, có các trường hợp cụ thể mà chứng chỉ hành nghề đấu giá sẽ bị thu hồi. Các trường hợp này bao gồm:

- Thuộc những trường hợp được chi tiết tại Điều 15 của Luật đấu giá năm 2016.

- Không thực hiện hành nghề đấu giá theo quy định tại Điều 18 của Luật đấu giá tài sản năm 2016 trong khoảng thời gian được xác định là 02 năm tính từ ngày cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp ngoại ý chính của con người.

- Bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện.

- Quyết định dừng hành nghề đấu giá theo nguyện vọng cá nhân.

- Bị tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố đã chết.

Do đó, có thể khẳng định rằng, hành vi làm sai lệch nội dung chứng chỉ hành nghề đấu giá chỉ bị xử phạt hành chính và không nằm trong các trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề đấu giá.

Bài viết liên quan: Có được cho thuê, mượn Chứng chỉ hành nghề đấu giá hay không?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!