- 1. Khái niệm quỹ hưu trí (Pension Fund)
- 1.1 Khái niệm Pension
- 1.2 Quỹ hưu trí (Pension fund)
- 2. Đặc điểm của quỹ trợ cấp hưu trí
- 2.1 Nguyên tắc xác định nguồn tài trợ
- 2.2 Nguyên tắc xác định mức trợ cấp
- 3. Các loại hình quỹ trợ cấp hưu trí
- 3.1 Chương trình trợ cấp riêng do các công ty kinh doanh lớn lập ra
- 3.2 Chương trình trợ cấp công cộng được quản lý bởi Chính phủ
- 4. Điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật Việt Nam
1. Khái niệm quỹ hưu trí (Pension Fund)
1.1 Khái niệm Pension
Pension là thuật ngữ chỉ tiền hưu trí hay lương hưu, được hiểu là các khoản tiền để trả cho những người đã về hưu và có thể trả theo tháng hoặc trả một lần toàn bộ số tiền đó. Hiện nay ở nhiều nước đang phát triển nền kinh tế thị trường thì tiền hưu trí có thể sẽ do nhà nước chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội hoặc cũng có thể do các quỹ hưu trí hay các công ty bảo hiểm tư nhân chi trả, thanh toán cho các đối tượng về hưu
Pension thuật ngữ chỉ tiền hưu trí hay lương hưuVà loại kế hoạch chi trả tiền hưu trí thường được sử dụng nhất là “ chương trình hưu trí xác lập quyền lợi và nghĩa vụ ”. Theo đó, những nhân viên cấp dưới về hưu sẽ được nhận một khoản tiền tương tự với tỷ suất Phần Trăm của mức lương trung bình họ nhận được trong những năm qua khi thao tác với một công ty nhất định và sẽ được nhận hàng kỳ. Đây được coi là sự phối hợp của người sử dụng lao động với người lao động để góp phần vào những quỹ trợ cấp, trong đó, người sử dụng lao động phải trả phần đông số tiền.
1.2 Quỹ hưu trí (Pension fund)
Quỹ trợ cấp hưu trí tên tiếng Anh là Pension Fund. Đây là một định chế tài chính quản lý tiền hưu trí tự nguyện và theo hợp đồng của cá nhân, công ty và Chính phủ. Theo đó người lao động hoặc người sử dụng lao động sẽ đóng góp những khoản tiền nhất định trong suốt thời gian làm việc của họ để được nhận một khoản thu nhập thường xuyên (trợ cấp hưu trí) khi về hưu hoặc mất sức lao động tạm thời. Quỹ hưu trí hàng ngày thu tiền đóng góp của người thuê lao động và người lao động, cũng như thanh toán tiền cho
2. Đặc điểm của quỹ trợ cấp hưu trí
Các quỹ trợ cấp hưu trí có thể được tách biệt rõ rệt với các trung gian tào chính khác dựa trên các nguyên tắc xác định nguồn tài trợ và mức trợ cấp chi trả cho từng thành viên của quỹ.
2.1 Nguyên tắc xác định nguồn tài trợ
Tại nhiều nước trên thể giới hiện nay, bao gồm cả Việt Nam, các quỹ trợ cấp hưu trí hoạt động theo mô hình "pay-as-you-go", nghĩa là tiền lương hưu chi trả cho những người đã về hưu ở thời điểm hiện tại được lấy từ những đóng góp cho quỹ lương hưu của những người đang lao động. Tuy nhiên hệ thống này về mặt lý thuyết và thực tiễn đã bộc lộ tính không bền vững trong dài hạn, thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Thứ nhất, việc huy động đóp góp của lao động hiện tại để chi trả trợ cấp cho những người đã về hưu (đã đóng góp trước đó) sẽ vấn phát huy hiệu quả khi lượng đóng góp cao hơn lượng chi trả. Tuy nhiên, đối với những quốc gia có quá trình già hóa dân số, Đặc biệt là các nước phát triển, thì lượng đóng góp có thể không đủ bì đắp lượng chi trả, dẫn đến hậu qảu mức trợ cấp hưu trí trung bình của một người sẽ giảm mạnh và có thể không bảo đảm một mức sống bình thường cho họ.
- Thứ hai: Mức đóng góp và chi trả của quỹ trợ cấp cũng cho thấy sự mất cân bằng trong dài hạn khi mà mức sống tuổi thọ trung bình đang ngày càng tăng lên, thời gian nghỉ học trung bình cũng kéo dài thêm. Điều này đồng nghĩa với việc quỹ sẽ phải trả mức trợ cấp ngày càng lớn và có nguy cơ vượt quá khả năng tài chính của quỹ.
- Thứ ba: Mô hình quỹ trợ cấp tiền lương này cũng cho thấy sự không công bằng giữa các thế hệ khi mà gánh nặng trợ cấp hưu trí ngày càng lớn và người chịu trách nhiệm đóng góp với mức ngày càng cao lạu là thế hệ trẻ.
Những bất ổn của mô hình "pay-as-you-go" cho thấy chúng ta cần xây dựng một mô hình quĩ trợ cấp hưu trí mới có tính cân bằng về mặt tài chính trong dài hạn cũng như cần công bằng hơn giữa các thế hệ, nếu không những hệ lụy mà xã hội có thể phải gánh chịu sẽ khó lường hết được.
2.2 Nguyên tắc xác định mức trợ cấp
Các chương trình trợ cấp hưu trí hiện nay xác định mức trợ cấp chi trả cho các thành viên tham gia theo hai nguyên tắc:
- Căn cứ vào mức độ đóng góp: Đây là nguyên tắc trong đó số tiền nhận được của nhưỡng người tham gia phụ thuộc vào số tiền đã đóng góp và khoản lãi từ việc đầu tư các khoản đóng góp đó. Người sử dụng lao động thực hiện các kế hoạch đóng góp cụ thể cho công nhân, thường phù hợp với các mức độ khác nhau dựa vào những đóng góp của nhân viên. Lợi ích cuối cùng mà nhân viên nhận được phụ thuộc vào hiệu quả đầu tư của chương trình. Trách nhiệm của công ty chỉ là dừng lại ở việc trả một khoản đóng cụ thể. Thông thường chương trình hưu trí có nghĩa là chương trình hưu trí xác định mức độ trợ cấp, với một khoản thanh toán được thiết lập, được tài trợ và kiểm soát hoàn toàn bởi người sử dụng lao động.
- Căn cứ vào mức độ trợ cấp: Đây là nguyên tắc trong đó số tiền người tham gia được hưởng khi về hưu được xác định căn cứ vào thời gian làm việc và mức lương của người đó. Người sử dụng lao động đảm bảo rằng nhân viên nhận được một lượng lợi ích nhất định khi nghỉ hưu, bất kể kết quả của các khoản đầu tư bằng tiền đóng góp. Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm cho một khoản thanh toán lương cụ thể cho người nghỉ hưu (số tiền được xác định theo coogn thức, thường dựa trên thu nhập và số năm phục vụ) và nếu tài sản trong kế hoạch lương hưu không đủ điều kiện để trả các khoản trợ cấp, công ty chịu trách nhiệm cho phần còn lại của khoản thanh toán.
Ngoài ra các chương trình trợ cấp hưu trí còn có quy định về thời gian tối thiểu phải tham gia đóng góp hoặc số năm tối thiểu phải làm việc tại một công ty để nhận trợ cấp từ quỹ trợ cấp hưu trí của công ty đó.
3. Các loại hình quỹ trợ cấp hưu trí
3.1 Chương trình trợ cấp riêng do các công ty kinh doanh lớn lập ra
Các quỹ này được lập ra vì lợi ích của nhân viên trong công ty. Quỹ được quản lý bởi một ngân hàng, một công ty bảo hiểm nhân thọ hoặc một người quản lý chuyên trách. Mục đích của quỹ này là thực hiện chương trình trợ cấp cho nhân công khi họ có đủ thời gian làm việc tối thiểu cho công ty. cái khó khăn của chương trình này là các khoản đóng góp và thu nhập của quỹ qua các năm không đủ để trả trợ cấp khi đến kì hạn thanh toán và các quỹ có nguy cơ thua lỗ kéo dài.
Để khắc phục được tình trạng nêu trên Nhà nước thường là người tham gia đóng góp với tư cách hỗ trợ cho các chủ doanh nghiệp để đảm bảo thu nhập hưu trí cho những người làm công.
3.2 Chương trình trợ cấp công cộng được quản lý bởi Chính phủ
Theo chương trình này hầu hết mọi cá nhân làm công ăn lương đều được nhận trợ cấp hưu trí. Đây là chương trình trợ cấp quan trọng nhất mà người ta quen gọi là bảo hiểm xã hội. Vốn của chương trình thu được từ đóng góp định kỳ của những người lao động được tính theo một tỷ lệ nhất định trên mức lương của họ. Các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội boa gồm tiền thu nhập hưu trí, tiền thanh toán y tế và trợ cấp mất sức lao động. Chương trình này hoạt động như một chương trình trợ cấp riêng nhưng đến nay nó cũng đang rơi vào tình trạng thiếu vốn khi nhu cầu thanh toán ngày càng tăng cao.
4. Điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo quy định tại Điều 55 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về điều kiện hưởng lương hưu, cụ thể như sau:
1. Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d, g, h và i khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 54 của Luật này nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi thấp hơn tối đa 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%;
b) Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động khi bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
c) Có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
2. Người lao động quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật này khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 54 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có tuổi thấp hơn tối đa 10 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
b) Có đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.”
* Mức hưởng lương hưu hàng tháng được xác định như sau:
Mức hưởng lương hưu hàng tháng của người lao động được tính theo công thức như sau:
| Mức lương hưu hàng tháng | = | Tỷ lệ % hưởng lương hưu hàng tháng | x | Mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội |
Trong đó xác định như sau:
Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng được xác định như sau:
Đối với lao động nam:
+ Đóng đủ 20 năm bảo hiểm xã hội thì được 45% (Người lao động nghỉ hưu năm 2021, đóng đủ 19 năm Bảo hiểm xã hội thì được 45%)
+ Sau đó, cứ cứ thêm mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội, được tính thêm 2%.
Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng tối đa là 75%.
Đối với lao động nữ:
- Đóng đủ 15 năm Bảo hiểm xã hội thì được 45%.
- Sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội, được tính thêm 2%.
Tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng tối đa là 75%.
Lưu ý: Trường hợp người lao động hưởng lương hưu trước tuổi quy định do suy giảm khả năng lao động theo quy định thì tỷ lệ (%) hưởng lương hưu hằng tháng được tính như trên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê