Các quy định chung về tội phạm và hình phạt cũng như biện pháp hình sự phi hình phạt tạo thành Phần chung của luật hình sự; Phần các tội phạm của luật hình sự là phần được hình thành bởi các quy định về tội phạm cụ thể và khung hình phạt cụ thể.

 

1. Phân tích quy phạm pháp luật hình sự:

Quy phạm pháp luật hình sự được thể hiện qua các quy định của luật hình sự hay nói cách khác là qua các điều luật. Giữa quy phạm pháp luật hình sự và điều luật của luật hình sự có sự khác nhau. Một điều luật quy định về tội phạm cụ thể mới chỉ thể hiện nội dung cơ bản của một quy phạm pháp luật hình sự mà chưa phải là một quy phạm pháp luật hình sự hoàn chỉnh. Một quy phạm pháp luật hình sự hoàn chỉnh luôn bao gồm nội dung của điều luật về một tội phạm cụ thể và nội dung các điều luật quy định về những vấn đề chung của tội phạm.

Ví dụ: Điều 141 BLHS năm 2015 có nội dung:

“Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cẩu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Nội dung này mới chỉ là phần cơ bản của quy phạm pháp luật hình sự vì trong nội dung này chưa có nội dung giải thích dấu hiệu “người nào”. Dấu hiệu này được giải thích qua các điều luật về tuổi chịu TNHS (Điều 12 BLHS) và về tình trạng không có năng lực TNHS (Điều 21 BLHS).

Với nội dung là xác định tội phạm và quy định hình phạt, quy phạm pháp luật hình sự đòi hỏi phải có hai bộ phận cấu thành - bộ phận xác định tội phạm và bộ phận quy định hình phạt. Tuy nhiên, việc xác định hai bộ phận đó trong cấu trúc của quy phạm pháp luật nói chung cũng như của quy phạm pháp luật hình sự nói riêng có sự không thống nhất giữa các nhà nghiên cứu và giảng dạy. Bên cạnh quan điểm cho rằng quy phạm pháp luật nói chung cũng như quy phạm pháp luật hình sự nói riêng có ba bộ phận (giả định, quy định và chế tài) cũng có quan điểm cho rằng quy phạm pháp luật chỉ có hai bộ phận (giả định và quy định hoặc giả định và chế tài)). Tác giả cho rằng quy phạm pháp luật hình sự là loại quy phạm tương đối đặc biệt so với quy phạm pháp luật của các ngành luật khác nên khó có sự thống nhất trong cách hiểu về nội dung cũng như cấu trúc của loại quy phạm pháp luật này. Nhưng điều chắc chắn là quy phạm pháp luật hình sự phải có hai bộ phận - bộ phận mô tả tội phạm và bộ phận xác định khung hình phạt (chế tài) có thể được áp dụng đối với tội phạm đó. Trong đó, bộ phận mô tả tội phạm gồm 2 phần: Phần mô tả chủ thể cùng các điều kiện khác (nếu có) và phần mô tả hành vi phạm tội.

Ví dụ: Bộ phận mô tả tội phạm tại Điều 132 BLHS. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng là:

“Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiếm đến tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dan đến hậu quả người đó chết".

Trong đó, phần mô tả chủ thể là “người nào”, phần mô tả điều kiện khác là “có điều kiện (cứu giúp)”; phần mô tả hành vi phạm tội là “không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết". Theo công thức chung của quy phạm pháp luật (nếu - thì - mà khác thì sẽ...)

>> Xem thêm: Quy phạm pháp luật là gì? Các bộ phận cấu thành quy phạm pháp luật?

 

2. Nhiệm vụ (chức năng) của luật hình sự là gì?

Trong sách báo pháp lí, nhiệm vụ của luật hình sự thường được nói đến khi các tác giả viết về ngành luật hình sự và trong BLHS Việt Nam, Điều 1 cũng đề cập nhiệm vụ của BLHS. Tuy nhiên, vì luật hình sự được xem là “công cụ” nên nói chức năng của luật hình sự phù hợp hơn so với nói nhiệm vụ của luật hình sự. Với nội dung của ngành luật hình sự được nêu trên có thể rút ra chức năng của luật hình sự là phương tiện chống và phòng ngừa tội phạm, là phương tiện bảo vệ và giáo dục. Với cách nói tắt thì luật hình sự có các chức năng: Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm, chức năng bảo vệ và chức năng giáo dục. Các chức năng này tuy có nội dung riêng nhưng không độc lập hoàn toàn mà có mối quan hệ biện chứng với nhau.

 

2.1 Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm của luật hình sự

Chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm là hai hoạt động tuy có nội dung khác nhau nhưng không tách rời nhau. Trong đó, chổng tội phạm là hoạt động trực diện với tội phạm - hoạt động phát hiện, điều tra, truy tổ và xét xử tội phạm. Phòng ngừa tội phạm bao gồm nhiều hoạt động khác nhau nhằm ngăn ngừa không để cho tội phạm xảy ra và đều có quan hệ mật thiết với hoạt động chống tội phạm. Chống tội phạm có hiệu quả không chỉ có tác dụng răn đe, ngăn ngừa tội phạm mà còn có thể định hướng cho các hoạt động phòng ngừa tội phạm. Do vậy, hoạt động chống tội phạm cũng được coi là hoạt động phòng ngừa tội phạm đặc biệt. Hoạt động chống và phòng ngừa tội phạm phải dựa ttên cơ sở pháp lí chung hay nói cách khác là đều phải sử dụng công cụ pháp lí chung là luật hình sự. Hiệu quả của chống và phòng ngừa tội phạm phụ thuộc một phần quan trọng vào độ hoàn thiện của luật hình sự. Do vậy, luật hình sự đã được coi“là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm...”.Chức năng chống và phòng ngừa tội phạm của luật hình sự được khẳng định rõ tại Điều 1 BLHS. Để thực hiện tốt chức năng chống và phòng ngừa tội phạm đòi hỏi luật hình sự phải luôn luôn được hoàn thiện theo sát sự thay đổi của tình hình tội phạm, đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm.

 

2.2 Chức năng bảo vệ của luật hình sự

Qua chức năng chống và phòng ngừa tội phạm, luật hình sự đồng thời có chức năng bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng cần thiết cho sự ổn định và phát triển của xã hội trước sự xâm hại của tội phạm. Ngành luật hình sự là công cụ pháp lí “góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thẻ của Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lí kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao”.

Đối tượng bảo vệ của ngành luật hình sự đều được xác định rõ ràng trong các BLHS: BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015. Theo Điều 8 BLHS năm 2015, đối tượng bảo vệ của luật hình sự là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, quyền con người, quyền, lọi ích họp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật. Để thực hiện tốt chức năng bảo vệ của mình, ngành luật hình sự cần phải xác định đúng, đầy đủ và kịp thời những hành vi có thể gây nguy hiểm cho các đối tượng bảo vệ để quy định là tội phạm. Có như vậy ngành luật hình sự mới có thể trở thành công cụ pháp lí hữu hiệu bảo vệ các quan hệ xã hội đã được xác định qua việc chống và phòng ngừa một cách toàn diện tất cả các tội phạm, không có hành vi nào nguy hiểm (ở mức tội phạm) cho đối tượng bảo vệ của ngành luật hình sự bị bỏ qua.

 

2.3 Chức năng giáo dục của Luật hình sự

Chống tội phạm qua việc xử phạt người phạm tội (cũng như pháp nhân thương mại trong trường hợp nhất định) không chỉ nhằm trừng trị mà còn nhằm mục đích giáo dục họ và giáo dục mọi người nói chung. Do vậy, ngành luật hình sự không chỉ là công cụ chống tội phạm mà còn có chức năng giáo dục. Cũng chính qua chức năng giáo dục mà ngành luật hình sự có thể thực hiện được chức năng phòng ngừa tội phạm của mình. Ngành luật hình sự không chỉ là công cụ răn đe người phạm tội mà còn răn đe cả những người khác và qua đó giáo dục người phạm tội cũng như mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, tránh các hành vi phạm tội. Ngành luật hình sự cũng là công cụ giáo dục ý thức tham gia chống và phòng ngừa tội phạm cho tất cả mọi người với vai trò là công dân cũng như với vai trò là thành viên của cơ quan hay tổ chức. Chức năng giáo dục của ngành luật hình sự dựa trên cơ sở chức năng chống tội phạm nhưng đồng thời cũng là cơ sở cho chức năng phòng ngừa tội phạm và chức năng bảo vệ của ngành luật này.

Chức năng giáo dục của ngành luật hình sự được xác định cụ thể tại Điều 1 và Điều 31 BLHS (Điều 1. Nhiệm vụ của BLHS quy định: "... giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chong tội phạm.”‘, Điều 31. Mục đích của hình phạt quy định: "... mà còn giáo dục họ ý thức tuần theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ...giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chổng tội phạm. ”).

>> Tham khảo: Cơ cấu của quy phạm pháp luật trong văn bản quy phạm pháp luật?

 

3. Một số câu hỏi thường gặp khác liên quan

3.1 Đặc điểm quan hệ pháp luật hình sự là gì?

+ Quan hệ pháp luật hình sự được phát sinh trên cơ sở quy phạm pháp luật hình sự. Trong đó, quy phạm pháp luật là sự dự liệu tình huống nảy sinh quan hệ pháp luật, xác định được chủ thể tham gia, quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý.

+ Quan hệ pháp luật hình sự mang tính ý chí, đây là ý chí của Nhà nước sau đó mới là ý chí của các bên tham gia vào quan hệ đó. Hai bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hình sự: một bên là Nhà nước và một bên là người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội với những quyền và nghĩa vụ pháp lý khác nhau. Trong đó:

Người phạm tội là người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà luật hình sự điều chỉnh, có đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 bổ sung thêm pháp nhân thương mại phạm tội là những pháp nhân có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 75 Bộ luật Hình sự. Nhà nước với tư cách là người bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

Tuy nhiên, khi thực hiện các quyền lực này, Nhà nước cũng phải có các nghĩa vụ nhất định đối với người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội. Quyền của Nhà nước chính là nghĩa vụ của người phạm tội hay pháp nhân thương mại phạm tội và ngược lại.

+ Khi tham gia quan hệ này, các bên bị ràng buộc bằng quyền chủ thể và nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Trong quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước sẽ là chủ thể có khá nhiều quyền, Nhà nước tự mình quy định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm; người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội có nhiều nghĩa vụ thực hiệc. Trong đó người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phạm tội có nghĩa vụ quan trọng nhất là phải tuân thủ những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước đề ra.

+ Nhà nước đảm bảo cho việc thực hiện quan hệ pháp luật hình sự, thậm chí là bảo đảm bằng các biện pháp cưỡng chế thi hành. Nhà nước giao nhiệm vụ xử lý tội phạm cho các cơ quan tư pháp. Những cơ quan này có quyền nhân danh Nhà nước điều tra, truy tố, xét xử, xác định hình phạt, buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt;

 

3.2 Nội dung của quan hệ hình sự là gì?

Căn cứ để làm phát sinh quan hệ pháp luật hình sự là hành vi phạm tội đã diễn ra trong thực tế, người phạm tội cũng như với pháp nhân thương mại phạm tội vi phạm những điều luật cấm.

Thời điểm chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự là khi người phạm tội đã chấp hành xong hình phạt hoặc bất kỳ các biện pháp nào của mà Nhà nước đã áp dụng đối với người phạm tội hoặc khi người phạm tội chết.

Ngành luật hình sự là ngành chỉ điều chỉnh một loại quan hệ xã hội đó chính là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội cũng như với pháp nhân thương mại phạm tội. Người phạm tội cũng như với pháp nhân thương mại phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự và bảo vệ nhiều loại quan hệ xã hội khác được các ngành luật khác điều chỉnh.

 

3.3 Quan hệ pháp luật hình sự có nghĩa là gì?

Quan hệ pháp luật là các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật khác nhau, những quan hệ xã hội này xác lập, phát triển, tồn tại hay chấm dứt dựa trên quy định của pháp luật, các bên tham gia vào quan hệ đó là những chủ thể có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý phát sinh được pháp luật quy định và Nhà nước sẽ bảo đảm thực hiện. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, mỗi ngành luật sẽ điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội khác nhau.

Quan hệ pháp luật hình sự với tư cách là một đối tượng điều chỉnh của Luật Hình sự. Quan hệ pháp luật hình sự cũng là một dạng quan hệ pháp luật. Quan hệ pháp luật hình sự mang đầy đủ các đặc tính của quan hệ pháp luật về bản chất xã hội hay bản chất pháp lý hay tính cưỡng chế nhà nước.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162, để được luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến. Trân trọng./.