1. Mục đích sử dụng quỹ phúc lợi của doanh nghiệp

Theo quy định tại khoản 4 của Điều 32 Nghị định 91/2015/NĐ-CP, quỹ phúc lợi được sử dụng như sau:

- Đầu tư vào việc xây dựng hoặc sửa chữa các công trình phúc lợi của doanh nghiệp: Quỹ này có thể được sử dụng để tài trợ cho việc xây dựng mới hoặc nâng cấp các cơ sở, như khu vực ăn uống, khu vực giải trí, khu vực thể dục, v.v. Điều này nhằm mục đích cải thiện điều làm việc và cuộc sống của nhân viên.

- Chi trả cho các hoạt động phúc lợi của người lao động trong doanh nghiệp, bao gồm cả người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên làm việc theo hợp đồng lao động và người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên do nhà nước bổ nhiệm. Quỹ có thể được sử dụng để tài trợ cho các chương trình phúc lợi cho nhân viên, bao gồm chăm sóc sức khỏe, giáo dục, du lịch, hoặc các khoản trợ cấp khác.

- Quỹ có thể đóng góp vào các dự án phúc lợi cộng đồng hoặc các dự án liên kết với các tổ chức khác nhằm cải thiện điều kiện sống của cộng đồng hoặc ngành nghề.

- Sử dụng một phần quỹ phúc lợi để trợ cấp khó khăn đột xuất cho những người lao động, bao gồm cả những trường hợp về hưu, mất sức lao động, gặp khó khăn về mặt kinh tế hoặc không có nơi nương tựa, cũng như cho những người tham gia vào các hoạt động từ thiện xã hội. Bằng cách sử dụng quỹ phúc lợi để hỗ trợ những trường hợp khó khăn này, doanh nghiệp không chỉ thể hiện tinh thần chăm sóc và quan tâm đến nhân viên mà còn góp phần xây dựng một môi trường làm việc tích cực và hỗ trợ.

- Mức chi sử dụng quỹ phúc lợi được quyết định bởi Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc doanh nghiệp, và được ghi trong Quy chế quản lý và sử dụng quỹ của doanh nghiệp. Mức chi này có thể được xác định dựa trên nhiều yếu tố như kinh phí có sẵn trong quỹ, các nhu cầu cụ thể của nhân viên, mục tiêu và chiến lược tổ chức của doanh nghiệp.

2. Những khoản nào có trong quỹ phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động?

Theo quy định tại khoản 4 của Điều 1 trong Nghị định 91/2014/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung đối bởi Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ, cụ thể về hướng dẫn và thực hiện Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp như sau: Các khoản chi mang tính chất phúc lợi và được chi trực tiếp cho người lao động mà doanh nghiệp có hóa đơn, chứng từ theo quy định. Các khoản này bao gồm: chi đám tang, lễ tang của bản thân và gia đình người lao động; chi phí nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi phí hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, hoặc bị ốm đau; chi khen thưởng con cái của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi phí hỗ trợ đi lại vào các ngày lễ, tết cho người lao động và những khoản chi khác mang tính chất phúc lợi theo hướng dẫn của Bộ Tài chính. Tổng số chi này không được vượt quá 01 tháng lương bình quân thực tế trong năm tính thuế.

Đồng thời, dựa trên quy định tại khoản 4 của Điều 3 trong Thông tư 25/2018/TT-BTC, có các điều chỉnh và bổ sung đối với tiết e điểm 2.2, tiết b điểm 2.6, điểm 2.11 và điểm 2.30 của Khoản 2 Điều 6 trong Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính (đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 của Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính) như sau: Khoản chi có tính chất phúc lợi được chi trực tiếp cho người lao động bao gồm: chi đám tang, lễ tang của bản thân và gia đình người lao động; chi phí nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, hoặc bị ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí đi lại vào các ngày lễ, tết cho người lao động; chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động (trừ khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động được hướng dẫn tại điểm 2.11 của Điều này) và các khoản chi có tính chất phúc lợi khác. Tổng số chi này không vượt quá 01 tháng lương bình quân thực tế trong năm tính thuế của doanh nghiệp.

Do đó, quỹ phúc lợi được sử dụng trực tiếp cho người lao động bao gồm các khoản sau đây: Chi đám tang, lễ tang của bản thân và gia đình người lao động; Chi phí nghỉ mát, chi hỗ trợ điều trị; Chi hỗ trợ bổ sung kiến thức học tập tại cơ sở đào tạo; Chi hỗ trợ gia đình người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; Chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; Chi hỗ trợ chi phí đi lại vào các ngày lễ, tết cho người lao động; Chi bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động (trừ khoản chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động, bảo hiểm hưu trí tự nguyện cho người lao động); Các khoản chi có tính chất phúc lợi khác.

3. Quy định về mức chi quỹ phúc lợi trực tiếp cho người lao động

Dựa vào điều 3 của Thông tư 25/2018/TT-BTC, quy định như sau: Tổng số chi có tính chất phúc lợi như trên không được vượt quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp. Do đó, quy định giới hạn tổng số chi có tính chất phúc lợi được chi trực tiếp cho người lao động như trên không vượt quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.

Đồng thời, theo Điều 18 của Thông tư 28/2016/TT-BLĐTBXH về lao động, tiền lương, thù lao, và tiền thưởng đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước, quỹ tiền thưởng và phúc lợi được quy định như sau: Dựa trên lợi nhuận hàng năm sau khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước, các thành viên góp vốn theo quy định của Nhà nước và Điều lệ công ty, công ty xác định quỹ tiền thưởng, phúc lợi của người lao động và người quản lý công ty theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận kế hoạch như sau:

- Quỹ khen thưởng, phúc lợi của người lao động: Nếu lợi nhuận thực hiện theo kế hoạch, quỹ khen thưởng, phúc lợi tối đa không vượt quá 3 tháng tiền lương bình quân thực hiện của người lao động. Nếu lợi nhuận thực hiện vượt kế hoạch, công ty được trích thêm 20% phần lợi nhuận thực hiện vượt kế hoạch, nhưng không vượt quá 3 tháng tiền lương bình quân thực hiện của người lao động. Nếu lợi nhuận thực hiện thấp hơn kế hoạch, quỹ khen thưởng, phúc lợi tối đa được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa lợi nhuận thực hiện và kế hoạch, không vượt quá 3 tháng tiền lương bình quân thực hiện của người lao động.

- Quỹ thưởng của người quản lý công ty: Nếu lợi nhuận thực hiện theo hoặc cao hơn kế hoạch, quỹ thưởng tối đa không vượt quá 1,5 tháng tiền lương bình quân thực hiện của người quản lý công ty chuyên trách. Nếu lợi nhuận thực hiện thấp hơn kế hoạch, quỹ thưởng tối đa không vượt quá 01 tháng tiền lương bình quân thực hiện của người quản lý công ty chuyên trách.

Dựa trên quỹ khen thưởng, phúc lợi ở Khoản 1 của Điều này, công ty quyết định việc phân bổ thành quỹ khen thưởng cho người lao động (không sử dụng quỹ này để thưởng cho người quản lý công ty, trừ khi có quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng) và quỹ phúc lợi để đầu tư xây dựng hoặc sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi của người lao động (bao gồm cả người quản lý công ty). Như vậy, đối với công ty có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nước, quỹ phúc lợi của người lao động sẽ được thực hiện với mức giới hạn như trên.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Thẩm quyền sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi của công ty?

Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!