1. Quy định chung về chức danh thẩm phán

Thẩm phán Toà án nhân dân ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thẩm phán Toà án nhân dân cấp huyện bao gồm Thẩm phán Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Thẩm phán Toà án quân sự các cấp bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu bao gồm Thẩm phán Toà án quân sự quân khu và tương đương, Thẩm phán Toà án quân sự khu vực.

Công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn, có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của pháp luật, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán.

Thẩm phán làm nhiệm vụ theo sự phân công của chánh án. Khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào và phải chịu trách nhiệm về công việc của mình.

2. Quy tắc ứng xử của Thẩm phán là gì?

Quy tắc ứng xử của Thẩm phán được hiểu là các chuẩn mực xử sự của Thẩm phán trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm phù hợp với đặc thù công việc của Thẩm phán nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của Thẩm phán.

Thẩm phán phải đáp ứng những chuẩn mực đạo đức bao gồm: Độc lập, liêm chính, vô tư, khách quan, công bằng, bình đẳng, đúng mực, tận tụy và không chậm trễ, năng lực và sự chuyên cần.

3.Tiêu chuẩn để trở thành thẩm phán

Tiêu chuẩn để trở thành thẩm phán bao gồm tiêu chuẩn chung áp dụng đối với mọi ngạch thẩm phán và tiêu chuẩn riêng áp dụng đối với từng ngạch thẩm phán. Các tiêu chuẩn chung để trở thành thẩm phán bao (Theo Điều 67 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2014) gồm:

- Các tiêu chuẩn về nhân thân - đạo đức: là công dân Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần bảo vệ công lí, liêm khiết, trung thực, có sức khỏe.

- Các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn: có trình độ chuyên môn luật trở lên, đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử, tức là có chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn pháp luật.

4. Các quy tắc ứng xử khi thực hiện nhiệm vụ

Các quy tắc ứng xử của Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ được quy định tại Điều 10 của Bộ Quy tắc; gồm 6 việc Thẩm phán phải làm, 9 việc Thẩm phán không được làm. Nội dung của từng quy định được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với quy định của Hiến pháp và pháp luật; trong đó, có những quy định nếu được nhận thức một cách sâu sắc sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng xét xử, đặc biệt là trong bối cảnh đất nước ta đang trong quá trình cải cách tư pháp, triển khai nhiều quy định mới của Hiến pháp và các đạo luật về công tác Tòa án. Xin được nêu một số nội dung sau đây:

Thứ nhất, một trong những việc khi thực hiện nhiệm vụ, Thẩm phán phải làm là: “Bảo đảm dân chủ, nghiêm minh, khách quan trong giải quyết các vụ việc; lắng nghe, tôn trọng ý kiến của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng” (điểm b khoản 1 Điều 10). Nội dung này đã được quy định trong các luật tố tụng; tuy nhiên, khi xuất hiện trong Bộ Quy tắc, bên cạnh ý nghĩa là quy định của pháp luật mà mỗi Thẩm phán phải nghiêm chỉnh chấp hành thì còn là những ứng xử thể hiện giá trị đạo đức của người Thẩm phán, những giá trị đó là liêm chính, vô tư, khách quan, công bằng, bình đẳng, đúng mực, không thiên vị. Có vậy, khi giải quyết các vụ việc, các Thẩm phán mới thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp về việc “… bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”.

Thứ hai, trong những việc Thẩm phán không được làm tại điểm a khoản 2 Điều 10 quy định Thẩm phán không được làm những việc pháp luật quy định công dân không được làm. Chúng tôi nhận thấy, quy định này cần được hiểu với nội hàm rộng hơn. Cụ thể là, các Thẩm phán, trước hết là công dân Việt Nam nên phải thực hiện nghĩa vụ công dân; tuy nhiên, bên cạnh nghĩa vụ công dân các Thẩm phán còn phải thực hiện nghĩa vụ của cán bộ, công chức, không được làm những việc mà cán bộ, công chức không được làm theo Luật Cán bộ, công chức và pháp luật có liên quan; đối với các Thẩm phán là đảng viên thì còn phải thực hiện đúng quy định của Đảng về những điều đảng viên không được làm.

Thứ ba, tại điểm c khoản 2 Điều 10 quy định Thẩm phán không được can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ việc hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ việc. Đây là nội dung không mới nhưng liên quan trực tiếp đến chuẩn mực đạo đức về tính độc lập và sự đúng mực của Thẩm phán. Với quy định này, bên cạnh những vi phạm mà pháp luật đã quy định chế tài để xử lý, chúng tôi xin được chia sẻ suy nghĩ và cách nhìn về quy định này với một nội hàm rộng hơn để tránh những tư tưởng hữu khuynh làm chậm quá trình cải cách tư pháp cũng như việc triển khai thực hiện những quan điểm đổi mới của Đảng đã được thể chế hóa trong Hiến pháp và pháp luật. Với nhận thức của chúng tôi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng xét xử của những Thẩm phán có nhiều năm công tác trong các Tòa án là vốn quý không dễ dàng có được, rất cần đúc rút để truyền lại cho những lớp Thẩm phán tiếp theo. Tuy nhiên, để nguồn vốn quý này phát huy hiệu quả, có ý nghĩa thiết thực đối với công tác Tòa án thì cần được đón nhận với một cái nhìn biện chứng, trong bối cảnh cải cách tư pháp, trong sự phát triển chung của đất nước và hội nhập quốc tế, không nên áp đặt một cách máy móc, rập khuôn; đặc biệt là khi tính độc lập, sự đúng mực, năng lực và sự chuyên cần đã được ghi nhận là những chuẩn mực đạo đức Thẩm phán.

5. Các quy tắc ứng xử tại cơ quan

Các quy tắc ứng xử của Thẩm phán tại cơ quan quy định tại Điều 11 Bộ Quy tắc; gồm 6 việc Thẩm phán phải làm, 3 việc Thẩm phán không được làm. Các quy định tại Điều này được xây dựng trên cơ sở quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Luật Cán bộ, công chức, Luật Phòng, chống tham nhũng và các quy định của Đảng. Trong đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến quy định về những việc Thẩm phán không được làm; cụ thể là:

(a) Thực hiện không đúng thẩm quyền, lạm quyền, vượt quyền;

(b) Đùn đẩy trách nhiệm cho người khác;

(c) Trù dập, lợi dụng việc góp ý, phê bình làm tổn hại đến danh dự, uy tín của cán bộ, công chức.

Những nội dung thuộc nội hàm của các quy định nêu trên cũng là những hạn chế, tồn tại trong thực trạng công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ nói chung đã được Hội nghị lần thứ 4 và lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XII nhận diện, đề ra các nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Nghị quyết của Hội nghị đã chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ là biểu hiện không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh, phê bình; một bộ phận lãnh đạo, quản lý uy tín thấp, năng lực, phẩm chất chưa ngang tầm nhiệm vụ, cá nhân chủ nghĩa, vướng vào tham nhũng, lợi ích nhóm. Như vậy, quy định những việc Thẩm phán không được làm như tại khoản 2 Điều 11 cần được nhìn nhận là một bước đi cụ thể, góp phần triển khai thi hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 và lần thứ 7 của Ban chấp hành trung ương Đảng. Điều này, còn có ý nghĩa hơn khi các quy định đó hiện diện trong Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán, được các Thẩm phán trong toàn quốc thảo luận, đóng góp ý kiến với sự đồng tình rất cao.

6. Các quy tắc ứng xử tại nơi cư trú, tại gia đình và tại nơi công cộng

Các quy tắc ứng xử tại nơi cư trú, tại gia đình và nơi công cộng được quy định tại Điều 14, Điều 15 và Điều 16 của Bộ Quy tắc. Như chúng tôi đã đề cập, Thẩm phán là chức danh cao quý, với nhiều người, Thẩm phán là tấm gương, là hình ảnh của công lý, của sự chuẩn mực, của niềm tin và lẽ phải. Những ứng xử của Thẩm phán tại nơi cư trú, tại gia đình, nơi công cộng bên cạnh ý nghĩa là việc thực hiện nghĩa vụ của công dân, nó còn tác động tích cực đến những người xung quanh mà trước hết là những thành viên cùng sống với người Thẩm phán dưới một mái nhà, giúp mọi người nhận thức và hành động đúng, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến văn hóa, đạo đức và pháp luật. Bởi vậy, việc quy định các quy tắc này trong Bộ Quy tắc là hết sức cần thiết – đây cũng là những biểu hiện cụ thể của tính thanh liêm, sự vô tư, khách quan, công bằng, bình đẳng, sự đúng mực và tận tụy đã được ghi nhận là những chuẩn mực đạo đức Thẩm phán.

Trong bối cảnh đất nước ta đang triển khai mạnh mẽ các chủ trương, định hướng của Đảng về cải cách tư pháp; về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; kiện toàn công tác cán bộ, việc ban hành Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử của Thẩm phán là hết sức  ý nghĩa và cần thiết. Bộ Quy tắc là cuốn cẩm nang ghi nhận một cách hệ thống những chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử để mỗi Thẩm phán rèn luyện, tu dưỡng và phấn đấu; đồng thời, đây là sự cam kết mạnh mẽ của các Thẩm phán, Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia trong việc giữ gìn đạo đức Thẩm phán, xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.