1. Khái niệm Vận đơn theo quy định pháp luật hiện hành?

- Cơ sở pháp lý: Điều 161 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015

"Điều 148. Chứng từ vận chuyển

1. Chứng từ vận chuyển bao gồm vận đơn, vận đơn suốt đường biển, giấy gửi hàng đường biển và chứng từ vận chuyển khác. Mẫu vận đơn, vận đơn suốt đường biển do doanh nghiệp phát hành và phải được gửi, lưu tại cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải.

2. Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.

3. Vận đơn suốt đường biển là vận đơn ghi rõ việc vận chuyển hàng hóa được ít nhất hai người vận chuyển bằng đường biển thực hiện..."

Theo điều luật trên, vận đơn là một chứng từ vận chuyển, nó sẽ làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại hoặc tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng;

Vận đơn là bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.

Trân trọng!

2. Vận đơn được ghi chú như thế nào? Quyền ghi chú vận đơn?

>> Xem thêm:  Nội thủy là gì ? Cách phân định vùng nội thủy

- cơ sở pháp lý: Điều 161 Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015

"Điều 161. Ghi chú trong vận đơn

1. Người vận chuyển có quyền ghi chú trong vận đơn nhận xét của mình nếu có nghi vấn về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hóa.

2. Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đơn sự mô tả về hàng hóa, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về lời khai báo của người giao hàng ở thời điểm bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xác minh.

3. Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đơn ký, mã hiệu hàng hóa, nếu chúng chưa được đánh dấu rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảo đảm dễ nhận thấy khi chuyến đi kết thúc.

4. Trường hợp hàng hóa được đóng gói trước khi giao cho người vận chuyển thì người vận chuyển có quyền ghi vào vận đơn là không biết rõ nội dung bên trong.

5. Người vận chuyển không chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất liên quan đến hàng hóa trong mọi trường hợp, nếu người giao hàng đã cố tình khai gian về chủng loại, giá trị của hàng hóa khi bốc hàng và khai báo đó đã được ghi nhận vào vận đơn."

Theo đó, người vận chuyển có quyền ghi chú trong vận đơn nhận xét của mình nếu có nghi vấn về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hóa. Nếu tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hóa có lỗi hoặc nhận thấy có vấn đề thì người vận chuyển có quyền ghi chú.

Trường hợp người vận chuyển sẽ có quyền từ chối ghi trong vận đơn về sự mô tả về hàng hóa, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về lời khai báo của người giao hàng ở thời điểm bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xác minh.

Bên cạnh đó, người vận chuyển cũng có quyền từ chối ghi trong vận đơn ký, mã hiệu hàng hóa, nếu chúng chưa được đánh dấu rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảo đảm dễ nhận thấy khi chuyến đi kết thúc.

Trường hợp hàng hóa được đóng gói trước khi giao cho người vận chuyển thì người vận chuyển có quyền ghi vào vận đơn là không biết rõ nội dung bên trong.

Về trách nhiệm bồi thường, người vận chuyển không chịu trách nhiệm bồi thường mất mát, hư hỏng hàng hóa hoặc tổn thất liên quan đến hàng hóa trong mọi trường hợp, nếu người giao hàng đã cố tình khai gian về chủng loại, giá trị của hàng hóa khi bốc hàng và khai báo đó đã được ghi nhận vào vận đơn.

Trân trọng!

3. Những thông tin cần có trên vận đơn

Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Vận đơn suốt đường biển là vận đơn ghi rõ việc vận chuyển hàng hóa được ít nhất hai người vận chuyển bằng đường biển thực hiện.

Theo đó, những thông tin cần có trên vận đơn bao gồm những thông tin sau:

  • Booking no : Số booking trên lệnh giao container rỗng
  • Vessel/ Flight No : Tên tàu/số chuyến.
  • Bill Type: Loại bill bạn muốn lấy (original bill, surrendered bill hay seaway bill ).
  • Freight and Charge : Loại phí trả ( cước PREPAID haycước COLLECT )
  • Shipper : Thông tin shipper gồm : tên công ty gởi hàng, địa chỉ, số điện thoại, fax, email ( Việc show thông tin số điện thoại, fax, email tùy thuộc vào bạn có muốn show hay không).
  • Consignee : Người nhận hàng gồm những thông tin : tên công ty nhận hàng, địa chỉ, số điện thoại, fax, email
  • Notify Party : Người nhận thông báo hàng đến, nếu người nhận thông báo hàng đến cũng là consignee thì điền SAME AS CONSIGNEE
  • Container/ Seal No : Số container/ số seal ( số này nhận lúc duyệt lệnh lấy container rỗng)
  • Description of Goods : Mô tả hàng hóa, bao gồm : Tên mặt hàng, số kiện, trọng lượng hàng ( Net weight, Gross Weight), thể tích ( nếu có), HS code , Shipping Mark là một dấu hiệu riêng cho hàng hóa của nhà sản xuất hoặc của người gửi hàng để người nhận hàng có thể nhận biết hàng của mình dễ dàng khi nhận hàng.
  • Port of Loading : Cảng load hàng hay còn gọi là cảng xếp hàng ( Cảng người bán chuyển hàng lên tàu)
  • Port of Discharge : Cảng chuyển tải ( Via port), Nếu hàng của bạn đi direct thì cảng chuyển tải cũng chính là cảng đến ( Delivery ).
  • Port of Delivery : Cảng đến, cảng đích
  • Remark: Những thông tin cần thêm

Trân trọng!

4. Sưu tầm bài viết "có nên dùng mẫu vận đơn Congenbhl 2007"

Mẫu vận đơn mới đó là CONGENBILL 2007 (được ký phát theo hợp đồng vận chuyển theo chuyến, mẫu GENCON) đã bắt đầu được sử dụng khá phổ biến gần đây. Tuy nhiên, mẫu vận đơn cũ - CONGENBILL, EDITION 1994 vẫn lưu hành rộng rãi. Những điểm khác nhau giữa CONGENBILL, EDITION 1994 (mẫu cũ) và CONGENBILL 2007 (mẫu mới) được phân tích sau đây:

Kể từ khi ra đời năm 1933, bản “Quy tắc thực hành thống nhẩt về tín dụng chứng từ” (Uniform Customs and Practice for Documentary Credits) của ICC - International Chamber of Commerce - Phòng Thuong mại Ọuốc tế) dùng trong thanh toán quốc tế bằng thư tín dụng (Letter of Credit) đã được sửa đổi nhiều lần nhằm theo kịp quá trình phát triển của thương mại, vận tải và thông tin liên lạc toàn cầu. Bản sửa đổi được coi là “tân tiến” cách đây hơn 15 năm là bản số 500 năm 1993 (1993 Revision ICC Publication No. 500) và bản mới nhất (tính đến năm 2009) là “Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” (ICC’s New Rules on Documentary Credit - ICC Uniform Customs and Practice for Documentary Credits 2007 Revision) có hiệu lực tù 1/7/2007), gọi tắt là UCP 600.

Liên quan đến vận đơn, nếu để ý đến lịch sử phát triển của phàn ghi chữ ký trên đó sẽ thấy, khoảng trước năm 1993, phần này khá đơn giản, thậm chí chỉ ghi “As Agent” (là đại lý) kèm theo một chữ ký hay con dấu mà trong nhiều trường hợp, không xác định được người ký là đại lý cho ai! Ký như thế thì “bất công” quá vì quyền sở hữu hàng hóa chuyển từ người bán sang người mua thông qua người vận chuyển mà vận đơn là chứng từ sở hữu hàng hóa lại được ghi “đơn sơ” như vậy thì rất khó “qui trách nhiệm” và dễ bị giả mạo (vì khó kiểm tra). Cứ khoảng 10-15 năm, UCP lại có sửa đổi làm cho vận đơn, trong một số trương hợp, cũng thay đổi theo.

Về vấn đề có nên dùng mẫu mới so với mẫu cũ của vận đơn. Điều đó sẽ tùy vào sự thỏa thuận của các bên có thể thỏa thuận dùng mẫu cũ hoặc mới tùy điều kiện cụ thể của mình.

Trân trọng!

5. Những thay đổi của mẫu đơn mới so với mẫu đơn cũ

Mẫu vận đơn mới (CONGENBILL 2007) đã đươc ủy ban chứng từ của BIMCO (Baltic and International Maritime Council) chấp nhận tháng 11/2007 và cũng có hai trang như mẫu cũ nhưng đã có một số thay đổi, đó là những thay đổi sau:

Thứ nhất, thay đổi trên trang 1 của mẫu mới:

Mẫu cũ ghi tên tắt của vận đơn là “Congenbill”, edition 1994; mẫu mới là Congenbill 2007 và có thêm phần Bill of Lading No. (số vận đơn). Theo qui định của UCP 500 và UCP 600, phải ghi rõ tên người vận chuyển mà mẫu vận đơn cũ lại không có phần nào dành riêng cho việc này nên người bán hàng, người giao hàng... cứ phải ghi thêm (in, đánh máy...) lên vận đơn, thành ra trông hơi bị “lem nhem” mà nhỡ quên không ghi thì ‘Tất nguy hiểm” vì chứng từ sẽ không phù hợp với L/C (Letter of Credit) - khó thanh toán tiền bán hàng. Vì vậy, mẫu mới có thêm phần Carrier’s name/principal place of business để ghi tên và trụ sở chính của ngươi vận chuyển.

Ngược lại ở mẫu cũ, phần chữ ký chỉ nêu chung chung là signature (chữ ký) mà không nêu rõ tư cách của người ký nên phải điền thêm chi tiết. Mâu mói in sẩn các “tình huống” để chỉ cần ký vào ô phù hợp là được: Signature (chữ ký) ...Carrier (...là người vận chuyển). Or, for the Carrier (Hoặc, thay mặt người vận chuyển) (Master’s name/ signature) as master (Tên và chữ ký của thuyền trưởng là Thuyền trưởng, (Agent’s name/signature) as Agent (Tên và chư ký của đại lý) là Đại lý.

Mẫu mới không còn nhóm từ “time used for loading ... days ... hours” (thời gian xếp hàng ... ngày ... giờ) và “freight payable at” (tiền cước trả tại) vì thực tế, nhũng phần này không thấy có tác dụng gì.

Thứ hai, thay đổi trên trang 2 của mẫu mới:

Trang này nói về Conditions of Carriage (điểu kiện vận chuyển) và cũng có 5 điều khoản như mẫu cũ nhưng có những sửa đổi như sau:

Điều (1) thêm “Dispute Resolution Clause” sau “the Law and Arbitration Clause” thành “...the Law and Arbitration Clause/ Dispute Resolution Clause...”.

Điều (2) General Paramount Clause được thay bằng điều khoản mới nhất của BIMCO và là điều khoản quan trọng nên xin nêu nguyên văn như sau:

"The International Convention for the Unification of Certain Rules of Law relating to Bills of Lading signed at Brussels on 25 August 1924 (“the Hague Rules”) as amended by the Protocol signed at Brussels on 23 February 1968 ("the Hague-Visby Rules”) and as enacted in the country of shipment shall apply to this Contract. When the Hague-Visby Rules are not enacted in the country of shipment, the corresponding legislation of the country of destination shall apply, irrespective of whether such legislation may only regulate outbound shipments.

When there is no enactment of the Hague-Visby Rules in either the country of shipment or in the country of destination, the Hague- Visby Rules shall apply to this Contract save where the Hague Rules as enacted in the country of shipment or if no such enactment is in place, the Hague Rules as enacted in the country of destination apply compulsorily to this Contract.

The Protocol signed at Brussels on 21 December 1979 (“the SDR Protocol 1979”) shall apply where the Hague-Visby Rules apply, whether mandatorily or by this Contract.

The Carrier shall in no case be responsible for loss of or damage to cargo arising prior to loading, after discharging, or while the cargo is in the charge of another carrier, or with respect to deck cargo and live animals."

Thứ ba, tại Điều (3) General Average có thay đổi quan trọng. Đó là xóa nhóm từ “or any subsequent modification thereof’ (hoặc bất kỳ thay đổi hay sửa đổi nào của Quy tắc này) ở sau đoạn “York-Antwerp Rules” (Quy tắc York-Antwerp), tức là, tổn thất chung sẽ chỉ được điều chỉnh theo Qui tác York-Antwerp 1994 chứ không áp dụng qui tác mới nhất là York-Antwerp 2004. (Qui tắc York-Antwerp 1994 có lợi cho người vận chuyển/chủ tàu hơn Qui tắc York-Antwerp 2004). Ngoài ra, điều 148, phần II của Luật thương mại Bỉ - câu “The Charterers, Shippers and Consignees expressly renounce the Belgian Commercial Code, Part II, Art. 148” đã được bỏ đi để vận đơn thể hiện tính quốc tế cao hơn.

Thứ tư, Điều (4) New Jason Clause và điều (5) Both- to-Blame Collision Clause không thay đồi.

Trên đây là một số điểm khác nhau giữa hai mẫu vận đơn. Theo đó các bên có thể thỏa thuận dùng mẫu cũ hoặc mới tùy điều kiện cụ thể của mình.

Ví dụ: Theo yêu cầu của người mua, người bán trong hợp đòng mua bán hàng hóa hoặc yêu cầu của chủ tàu/nguời vận chuyển về vấn đề tổn thất chung... Tuy vậy, dù dùng mẫu nào thì cũng nên lưu ý những đặc điểm của mẫu đó để áp dụng đúng và không bị thiệt hại đối với các bên.

Trân trọng!

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Ghi chú trong vận đơn theo quy định pháp luật hàng hải?

Trả lời:

Điều 161. Ghi chú trong vận đơn

"1. Người vận chuyển có quyền ghi chú trong vận đơn nhận xét của mình nếu có nghi vấn về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hóa.

..."

(Bộ luật hàng hải năm 2015).

Câu hỏi: Description of Goods trong thông tin trên vận đơn có nghĩa là gì?

Trả lời:

Description of Goods : Mô tả hàng hóa, bao gồm : Tên mặt hàng, số kiện, trọng lượng hàng ( Net weight, Gross Weight), thể tích ( nếu có), HS code , Shipping Mark là một dấu hiệu riêng cho hàng hóa của nhà sản xuất hoặc của người gửi hàng để người nhận hàng có thể nhận biết hàng của mình dễ dàng khi nhận hàng.

Câu hỏi: Người vận chuyển có quyền từ chối ghi vận đơn trường hợp nào?

Trả lời:

Điều 161. Ghi chú trong vận đơn

"1. Người vận chuyển có quyền ghi chú trong vận đơn nhận xét của mình nếu có nghi vấn về tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hóa.

2. Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đơn sự mô tả về hàng hóa, nếu có đủ căn cứ nghi ngờ tính chính xác về lời khai báo của người giao hàng ở thời điểm bốc hàng hoặc khi không có điều kiện xác minh.

3. Người vận chuyển có quyền từ chối ghi trong vận đơn ký, mã hiệu hàng hóa, nếu chúng chưa được đánh dấu rõ ràng trên từng kiện hàng hoặc bao bì, bảo đảm dễ nhận thấy khi chuyến đi kết thúc..."

(Bộ luật hàng hải năm 2015).