1. Quyền hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định?

Quyền hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại theo Điều 98 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 bao gồm các hoạt động sau:

- Nhận tiền gửi: Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác từ tổ chức và cá nhân.

- Phát hành các công cụ tài chính: Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài.

- Cấp tín dụng:

+ Cho vay tiền;

+ Chiết khấu, tái chiết khấu các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác;

+ Bảo lãnh ngân hàng;

+ Phát hành thẻ tín dụng;

+ Bao thanh toán trong nước và quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế;

+ Các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

- Mở tài khoản và cung ứng các phương tiện thanh toán:

+ Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng;

+ Cung cấp các phương tiện thanh toán như séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thư tín dụng, thẻ ngân hàng và dịch vụ thu chi hộ.

- Cung cấp các dịch vụ thanh toán: Thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính đều có quyền thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật. Dưới đây là các hoạt động mà cả hai loại công ty có thể thực hiện:

- Nhận tiền gửi của tổ chức: Cả công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính đều được phép nhận tiền gửi từ các tổ chức khác.

- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu: Cả hai loại công ty đều có thể phát hành các loại giấy tờ tài chính này để huy động vốn từ các tổ chức khác.

- Vay vốn: Cả công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính đều được phép vay vốn từ các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính trong và ngoài nước, và có thể vay tái cấp vốn từ Ngân hàng Nhà nước.

- Cho vay: Cả hai loại công ty đều có quyền cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng.

- Bảo lãnh: Cả hai loại công ty cũng có thể thực hiện hoạt động bảo lãnh cho các giao dịch ngân hàng.

- Chiết khấu và tái chiết khấu: Cả công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính đều có thể thực hiện các hoạt động này với các công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác.

Ngoài ra, công ty cho thuê tài chính còn có thêm các hoạt động sau:

- Cho thuê tài chính.

- Cho vay bổ sung vốn lưu động đối với bên thuê tài chính.

- Cho thuê vận hành với điều kiện tổng giá trị tài sản cho thuê vận hành không vượt quá 30% tổng tài sản có của công ty cho thuê tài chính.

- Thực hiện hình thức cấp tín dụng khác khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Các hoạt động ngân hàng mà ngân hàng hợp tác xã có thể thực hiện theo quy định tại mục 2 Chương IV của Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản bao gồm:

- Nhận tiền gửi của cá nhân, tổ chức theo các hình thức và điều kiện quy định của pháp luật.

- Cho vay vốn, bao gồm cả cho vay tiêu dùng, cho vay ưu đãi, và cho vay theo mục đích đặc biệt khác theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện các hoạt động bảo đảm và dịch vụ liên quan đến bảo đảm theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện các hoạt động liên quan đến chuyển khoản tiền tệ, thanh toán, tín dụng bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện các hoạt động về thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và các dịch vụ thanh toán điện tử theo quy định của pháp luật.

- Phát hành, mua lại và tiếp nhận bảo đảm, chứng khoán và các giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật.

- Tổ chức và tham gia hoạt động của thị trường tài chính và các hoạt động dịch vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật và được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Các tổ chức tín dụng khác cũng thực hiện một số hoạt động ngân hàng quan trọng theo quy định của pháp luật, bao gồm:

- Quy định của Ngân hàng Nhà nước trong Giấy phép: Ngân hàng Nhà nước quy định cụ thể nội dung hoạt động ngân hàng của từng tổ chức tín dụng trong Giấy phép cấp cho họ. Điều này đảm bảo rằng các tổ chức tín dụng hoạt động dưới sự điều chỉnh và kiểm soát của cơ quan quản lý tài chính nhà nước.

- Hạn chế hoạt động kinh doanh: Tổ chức tín dụng không được phép thực hiện bất kỳ hoạt động kinh doanh nào ngoài các hoạt động ngân hàng đã được quy định trong Giấy phép của họ. Điều này giúp đảm bảo rằng các tổ chức tín dụng tập trung vào nhiệm vụ chính là cung cấp các dịch vụ tài chính và ngân hàng một cách an toàn và hiệu quả.

- Thực hiện theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước: Các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác của tổ chức tín dụng được quy định tại Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 và thực hiện theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước.

 

2. Quy định hoạt động ngân hàng là gì? 

Theo quy định tại Khoản 12, 13, 14, 15 Điều 4 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định về hoạt động ngân hàng bao gồm các nghiệp vụ chính sau đây:

- Nhận tiền gửi:

+ Nhận tiền gửi không kỳ hạn: Ngân hàng thu nhận tiền từ tổ chức và cá nhân mà không yêu cầu thời gian cụ thể để thu hồi số tiền này.

+ Nhận tiền gửi có kỳ hạn: Ngân hàng cũng thu nhận tiền gửi mà yêu cầu một khoản thời gian cụ thể trước khi khách hàng có thể rút tiền mặt.

+ Tiền gửi tiết kiệm: Đây là dạng tiền gửi có lãi suất hấp dẫn hơn, nhưng thường yêu cầu một khoản tiền tối thiểu và một thời gian cụ thể.

+ Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu: Ngân hàng có thể phát hành các công cụ tài chính này để thu hút tiền gửi từ khách hàng và sử dụng chúng để cung cấp tín dụng hoặc đầu tư.

- Cấp tín dụng:

+ Cho vay: Ngân hàng cung cấp vay tiền cho cá nhân và tổ chức theo các điều kiện nhất định, bao gồm lãi suất và thời hạn trả nợ.

+ Chiết khấu: Ngân hàng có thể mua các tín phiếu hoặc hợp đồng trả nợ của khách hàng với một giá giảm và đảm bảo chúng để kiếm lời.

+ Cho thuê tài chính: Cung cấp các dịch vụ cho thuê tài sản hoặc thiết bị cho cá nhân hoặc tổ chức với một phí.

+ Bảo lãnh ngân hàng: Ngân hàng cung cấp bảo lãnh cho khách hàng để đảm bảo thực hiện các giao dịch hoặc cam kết thanh toán.

- Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản:

+ Cung cấp các phương tiện thanh toán như séc, lệnh chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng.

+ Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác như chuyển khoản, thanh toán hóa đơn điện tử, và các dịch vụ thanh toán trực tuyến khác thông qua tài khoản của khách hàng.

Những hoạt động này không chỉ làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng mà còn cung cấp dịch vụ quan trọng cho khách hàng, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế.

 

3. Thuật ngữ được sử dụng liên quan đến hoạt động ngân hàng? 

Theo Điều 5 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010, tổ chức không được phép sử dụng các cụm từ hoặc thuật ngữ như "tổ chức tín dụng", "ngân hàng", "công ty tài chính", "công ty cho thuê tài chính" hoặc các cụm từ, thuật ngữ khác tương tự trong tên của tổ chức, chức danh, hoặc trong các phần phụ thêm của tên, chức danh, hoặc trong giấy tờ giao dịch hoặc quảng cáo của mình. Việc này nhằm tránh tạo ra sự nhầm lẫn cho khách hàng về bản chất và hoạt động của tổ chức, và để đảm bảo tính minh bạch và sự rõ ràng trong giao dịch tài chính.

Cụ thể, điều này có nghĩa là các tổ chức không được phép sử dụng các thuật ngữ mô tả hoặc gợi ý về việc họ hoạt động như một tổ chức tín dụng, ngân hàng, hoặc công ty tài chính trong các tên tổ chức, tên chức danh, hoặc các tài liệu quảng cáo. Việc này giúp người tiêu dùng và các bên liên quan hiểu rõ hơn về tính chất và dịch vụ của tổ chức, đồng thời ngăn chặn các trường hợp lạm dụng thông tin hoặc gây nhầm lẫn trong thị trường tài chính.

 

4. Quy định hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng

Quy định tại Điều 9 Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 quy định việc hợp tác và cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng như sau: 

- Tổ chức tín dụng và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hợp tác và cạnh tranh trong các hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật. Điều này bao gồm việc tham gia vào các giao dịch tài chính, cung cấp dịch vụ ngân hàng, và các hoạt động tín dụng khác.

- Tuy nhiên, Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 cũng nghiêm cấm mọi hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể gây tổn hại đến các mục tiêu chính sách tiền tệ của quốc gia, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng, lợi ích của Nhà nước, và quyền lợi hợp pháp của các tổ chức và cá nhân.

Quy định đặt ra đảm bảo rằng các tổ chức tín dụng hoạt động trong một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.

Quý khách xem thêm bài viết sau: Nợ quá hạn ngân hàng sau bao lâu thì sẽ bị kiện ?

Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.