Kính chào luật sư công ty Luật Minh Khuê, tôi có một chút thắc mắc về bảo hiểm nhân thọ mong được luật sư giải đáp. Xin luật sư cho biết quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là gì? Pháp luật hiện hành có quy định như thế nào trong việc xác định các quyền lợi có thể được bảo hiểm này?

Rất mong nhận được giải đáp từ luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Đinh Luật - Quảng Ngãi

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 sửa đổi năm 2010

2. Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ là gì?

>> Xem thêm:  Đơn bảo hiểm là gì ? Khái niệm về đơn bảo hiểm

Theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật KDBH năm 2000, sửa đổi năm 2010 (Luật KDBH) thì quyền lợi được bảo hiểm là: “quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”. Theo đó, xét dưới góc độ BHNT thì quyền lợi bảo hiểm trong BHNT là “quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm”.

Căn cứ theo khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của pháp luật”.

Nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là nội dung quan trọng của pháp luật hôn nhân và gia đình: nghĩa vụ nuôi dưỡng được xác lập giữa cha mẹ (cả cha mẹ ruột, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế) với con cái (cả con ruột, con nuôi, con riêng của vợ hoặc con riêng của chồng) và ngược lại, giữa ông bà đối với cháu và ngược lại, giữa cô, dì, chú, bác ruột với cháu[2]. Ngoài nghĩa vụ được pháp luật hôn nhân và gia đình xác lập, không còn tồn tại bất kỳ quy định pháp luật nào khác về quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Do đó, căn cứ để xác lập quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình. Cách hiểu này là rất hẹp so với thực tiễn. Bởi vì, ngoài mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng được xác lập theo quan hệ hôn nhân, huyết thống thì còn tồn tại các mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng khác như: quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và chồng sau khi ly hôn, quan hệ cấp dưỡng của người phạm tội đối với những người mà người bị hại phải nuôi dưỡng nếu người bị hại còn sống…

Theo quy định của khoản 3 Điều 9 Luật KDBH, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng phải gắn với đối tượng được bảo hiểm. Khoản 1 Điều 31 Luật KDBH quy định: “Đối tượng của hợp đồng bảo hiểm con người là tuổi thọ, tính mạng, sức khoẻ và tai nạn con người”. Như vậy, có thể hiểu, quyền lợi bảo hiểm trong BHNT là quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng của bên mua bảo hiểm đối với người được bảo hiểm phát sinh liên quan đến tuổi thọ, sức khỏe hoặc tính mạng của người được bảo hiểm. Pháp luật KDBH Việt Nam không bảo hiểm cho những yêu tố khác thuộc về con người như nghề nghiệp, bộ phận cơ thể người,… Ví dụ, pháp luật bảo hiểm Việt Nam không cho phép một cá nhân mua bảo hiểm cho giọng hát của nghề ca sĩ, hoặc đôi chân của cầu thủ bóng đá. Người mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho cầu thủ bóng đá với sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, sinh kỳ hoặc tử kỳ. Theo đó, cầu thủ bóng đá chỉ được bảo hiểm cho tổn thất về sức khỏe khi bị gãy chân chứ không được bảo hiểm cho tổn thất về thu nhập, chi trả tài chính cho cuộc sống khi phải giải nghệ vì gãy chân.

Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT như sau: Quyền lợi có thể được bảo hiểm trong BHNT là quyền và/hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa/của người mua bảo hiểm với người được bảo hiểm gắn liền về tính mạng, tuổi thọ, sức khỏe và tai nạn con người.

3. Nguyên tắc bên mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại Việt Nam

3.1. Quy định của pháp luật về xác định người được bảo hiểm

Theo quy định của khoản 2 Điều 31 Luật KDBH, “Bên mua bảo hiểm chỉ có thể mua bảo hiểm cho những người sau đây: a) Bản thân bên mua bảo hiểm; b) Vợ, chồng, con, cha, mẹ của bên mua bảo hiểm; c) Anh, chị, em ruột; người có quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng; d) Người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm”.

Quy định nêu trên cho thấy, người được bảo hiểm chỉ cần thỏa mãn một trong số các trường hợp a, b, c, d thì bên mua bảo hiểm được phép mua bảo hiểm cho họ. Tuy nhiên, phân tích nội dung của quy định này cho thấy một số bất cập sau đây:

Thứ nhất, quy định tại điểm b và điểm c chỉ quy định mối quan hệ hôn nhân, huyết thống mà không xem xét nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng có tồn tại giữa họ hay không. Có nghĩa rằng, theo quy định của Luật KDBH, nếu quan hệ giữa người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm là bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột thì không cần phải chứng minh thêm bất kỳ một quyền lợi gì vì đây đương nhiên là lợi ích về tinh thần thuộc về quyền lợi được bảo hiểm. Còn đối với các quan hệ khác ngoài các quan hệ bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột đã được thừa nhận thì còn phải có thêm điều kiện: “người có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng”. Bởi vì, theo pháp luật hôn nhân và gia đình, những chủ thể có quyền/nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng không chỉ là bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh chị em ruột mà còn là ông bà đối với cháu, cô, dì, chú, cậu, bác ruột, vợ chồng sau khi ly hôn. Do đó, Điều 31 liệt kê các mối quan hệ phát sinh quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là chưa đầy đủ theo pháp luật hôn nhân và gia đình.

Thứ hai, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 31 Luật KDBH, mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm không được xác lập theo mối quan hệ gia đình mà tồn tại theo mối quan hệ quyền lợi có thể được bảo hiểm, tức tồn tại mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Theo đó, một cá nhân, tổ chức có thể mua BHNT cho bất kỳ cá nhân nào khác nếu chứng minh được giữa họ có quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Ví dụ: A gây tai nạn cho B làm phát sinh trách nhiệm cấp dưỡng hàng tháng cho B. Như vậy, A có thể mua BHNT cho B và ngược lại. Hay việc một cơ sở bảo trợ xã hội X có thể mua bảo hiểm cho bất kỳ đứa trẻ nào mà họ trực tiếp nuôi dưỡng hay không vẫn còn là vấn đề pháp lý chưa rõ ràng.

>> Xem thêm:  Giám định tổn thất bảo hiểm là gì ? Quy định của pháp luật về giám định tổn thất bảo hiểm ?

Thứ ba, quyền lợi có thể được bảo hiểm chỉ xác lập trên cơ sở quyền/nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng là chưa bao quát hết quyền/nghĩa vụ tài chính giữa các chủ thể. Theo đó, giữa các chủ thể còn tồn tại các mối quan hệ về tài chính khác cần được bảo vệ. Ví dụ, mối quan hệ giữa chủ nợ với con nợ (chủ nợ có quyền lợi - sẽ phải gánh chịu rủi ro - nếu con nợ chết - không được thanh toán nợ); mối quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động (người sử dụng lao động có quyền lợi - sẽ bị thiệt hại nếu người lao động chết hoặc nghỉ việc)…

Thứ tư, xuất phát từ quy định coi mối quan hệ nuôi dưỡng và cấp dưỡng là căn cứ xác định có phát sinh quyền lợi có thể được bảo hiểm đã giới hạn bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm chỉ có thể là cá nhân. Điều này làm hạn chế sự phát triển của thị trường BHNT do không có sự tham gia của các chủ thể là tổ chức với tư cách là bên mua bảo hiểm.

Như vậy, pháp luật thực định Việt Nam vẫn chưa thống nhất căn cứ xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm dựa vào mối quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng hay mối quan hệ hôn nhân, huyết thống hay kết hợp cả hai. Vì vậy, hợp đồng bảo hiểm có thể bị tuyên bố vô hiệu vì không xác định được quyền lợi có thể được bảo hiểm. Điều này làm gia tăng rủi ro cho người mua bảo hiểm hoặc người thụ hưởng, hạn chế sự tham gia BHNT của công dân.

3.2. Về thời điểm xác định bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm

Tùy thuộc vào tính chất của hợp đồng BHNT nói riêng và bảo hiểm con người nói chung mà quyền lợi được bảo hiểm được coi là phải xác lập tại thời điểm nào. Theo quy định của khoản 1 Điều 22 Luật KDBH, hợp đồng bảo hiểm sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm. Chúng tôi cho rằng, bên mua bảo hiểm chỉ được mua bảo hiểm nếu chứng minh được quyền lợi có thể được bảo hiểm đang tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Có nghĩa là, nếu bên mua bảo hiểm có khả năng dự báo về một quyền lợi có thể bị “tổn thất” trong tương lai thì họ hoàn toàn có quyền “đầu tư” để hạn chế những tổn thất như vậy có thể xảy ra. Ngược lại, nếu tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm, bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì coi như dự báo về tổn thất là sai. Do đó, bên bảo hiểm không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Vì vậy, quy định của pháp luật KDBH hiện hành bắt buộc người mua bảo hiểm phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm là không cần thiết, cản trở sự tham gia bảo hiểm của người có nhu cầu.

Theo quy định của điểm a khoản 1 Điều 23 Luật KDBH, hợp đồng bảo hiểm sẽ chấm dứt hiệu lực nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm bên mua bảo hiểm có quyền lợi có thể được bảo hiểm nhưng trong quá trình thực hiện, quyền lợi có thể được bảo hiểm đã không còn tồn tại. Ví dụ, A mua bảo hiểm tử kỳ cho vợ (hợp pháp) của mình là B, chỉ định con chung của họ là người thụ hưởng. Thời gian đóng phí bảo hiểm là 20 năm. A đóng phí bảo hiểm được 5 năm thì A và B ly hôn. Tại thời điểm bản án lý hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, hợp đồng bảo hiểm phải chấm dứt. Như vậy, tại thời điểm giao kết, hợp đồng bảo hiểm đã phát sinh hiệu lực nhưng bị “cưỡng bức” chấm dứt khi quyền lợi có thể được bảo hiểm không còn. Để hợp đồng bảo hiểm tiếp tục có hiệu lực, người mua bảo hiểm có thể thỏa thuận chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người có quyền lợi có thể được bảo hiểm tiếp theo. Tuy nhiên, pháp luật không quy định bên mua bảo hiểm phải chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm trong thời hạn bao lâu tính từ ngày quyền lợi có thể được bảo hiểm không tồn tại. Bởi vì, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 23 Luật KDBH, hợp đồng sẽ tự động chấm dứt khi quyền lợi có thể được bảo hiểm không còn. Do đó, việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người có quyền lợi có thể được bảo hiểm không còn giá trị. Nói cách khác là không có giới hạn thời gian tối đa để người mua bảo hiểm phải chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm, miễn sao việc chuyển nhượng hoàn thành trước khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Chúng tôi cho rằng, để bảo đảm quyền lợi của các các bên, cần phải quy định một khoản thời hạn tính từ khi quyền lợi bảo hiểm không còn, người mua bảo hiểm phải chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người có quyền lợi có thể được bảo hiểm tiếp theo. Nếu hết thời hạn chuyển nhượng, người mua bảo hiểm không chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm cho người có quyền lợi có thể được bảo hiểm tiếp theo thì hợp đồng bảo hiểm mới chấm dứt.

4. Đề xuất sửa đổi và hoàn thiện cơ sở pháp lý xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ

Thứ nhất, xác định quyền lợi về tinh thần. Theo đó, người mua bảo hiểm đương nhiên có quyền lợi bảo hiểm đối với người được bảo hiểm thông qua mối quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng được liệt kê cụ thể là cha mẹ với con cái, vợ với chồng, anh chị em ruột, ông bà với cháu ruột, cô, dì, chú bác ruột với cháu ruột. Ở khía cạnh lợi ích tinh thần, bên mua bảo hiểm không có nghĩa vụ chứng minh có tồn tại quyền hoặc nghĩa vụ nuôi dưỡng trên thực tế hay không. Cách tiếp cận này phù hợp với yếu tố đạo đức và quan hệ gia đình tại Việt Nam. Bởi vì, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng giữa những người trong gia đình không phải lúc nào cũng tồn tại mà chỉ thực sự cần thiết trong những trường hợp rủi ro - tức khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

Thứ hai, về mối quan hệ tài chính (vật chất). Theo đó, người mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho bất kỳ chủ thể nào nếu chứng minh được có tồn tại mối quan hệ giữa người mua bảo hiểm với người được bảo hiểm. Ví dụ: Quyền lợi có thể được bảo hiểm từ lợi ích kinh tế tồn tại giữa các đối tác kinh doanh, giữa người sử dụng lao động và người lao động, giữa chủ nợ và con nợ… Ở cách tiếp cận này, bên mua bảo hiểm phải chứng minh được mối quan hệ về tài chính tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng và trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng. Dưới góc độ lý luận, bản chất của quan hệ bảo hiểm, xuất phát từ mục đích của người mua bảo hiểm khi tham gia quan hệ bảo hiểm thì quyền lợi được bảo hiểm là lợi ích tài chính. Như vậy, nếu người mua bảo hiểm muốn mua bảo hiểm cho những người không có quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng thì quan hệ giữa người mua bảo hiểm và người được bảo hiểm chỉ có thể hình thành quan hệ tài chính. Do đó, pháp luật thực định cần bãi bỏ khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm quy định tại khoản 9 Điều 3 Luật KDBH. Theo đó, tùy thuộc vào từng loại hình bảo hiểm sẽ thiết kế khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm tương ứng cho phù hợp. Cụ thể, đối với bảo hiểm con người, khái niệm quyền lợi có thể được bảo hiểm được xây dựng theo hướng liệt kê những người có mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và ở trường hợp cuối cùng khẳng định là “người khác, nếu bên mua bảo hiểm có quyền hoặc nghĩa vụ về tài chính”.

Thứ ba, cần loại bỏ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 22 Luật KDBH về hợp đồng bảo hiểm vô hiệu khi người mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Theo đó, người mua bảo hiểm chỉ cần có quyền lợi có thể được bảo hiểm tại thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm. Cách tiếp cận này phù hợp với bản chất của BHNT có thời gian đóng bảo hiểm rất dài, khả năng hình thành, thay đổi, chấm dứt quyền lợi có thể được bảo hiểm là rất cao.

Thứ tư, pháp luật KDBH cần ấn định thời hạn tối đa tính từ ngày người mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm, người mua bảo hiểm phải chuyển nhượng quyền lợi có thể được bảo hiểm cho người có quyền lợi có thể được bảo hiểm tiếp theo. Điều này hạn chế những tranh chấp khi có sự thay đổi quyền lợi có thể được bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng.

>> Xem thêm:  Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp là gì ? Đặc điểm, phân loại bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập

>> Xem thêm:  Giá trị bảo hiểm là gì ? Khái niệm về giá trị bảo hiểm

Câu hỏi thường gặp về bảo hiểm nhân thọ

Câu hỏi: Người mua bảo hiểm nhân thọ có nghĩa vụ gì?

Trả lời:

- Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

- Kê khai đầy đủ, trung thực mọi chi tiết có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;

- Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;

- Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

- Áp dụng các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu khi nào?

Trả lời:

- Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm;

- Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại;

- Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;

- Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Câu hỏi: Có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không?

Trả lời:

- Bên mua bảo hiểm có thể được chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm nếu có thỏa thuận về điều khoản này trong hợp đồng bảo hiểm.

- Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó.