1. Khái niệm quyền rút vốn đặc biệt
Quyền rút vốn đặc biệt (viết tắt là SDRs - Special Drawing Rights) được Quỹ Tiền tệ Quốc tế đặt ra năm 1969 theo đề nghị của 10 nước trong Câu lạc bộ Paris gồm: Bỉ, Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Điển, Anh, Mỹ, Đức như một dạng tài sản dự trữ quốc tế. Tuy nhiên phải đến năm 1973, khi hệ thống lãi suất cố định Bretton Woods sụp đổ, SDRs mới được IMF định nghĩa lại như một rổ tiền tệ. Về bản chất, SDRs không phải là một loại tiền tệ cụ thể như đồng Đô la Mỹ, đồng Yên của Nhật hay đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc,… mà SDRs được biết đến như một dạng tài sản dự trữ của quốc gia thành viên, một đơn vị quy đổi. Với SDRs, quốc gia thành viên có thể bổ sung trực tiếp vào dự trữ ngoại hối nhà nước, cho các quốc gia thành viên khác vay hoặc đổi lấy “ngoại tệ tự do sử dụng” phục vụ nhu cầu dự trữ ngoại hối nhà nước của mình.
2. Tại sao lại xuất hiện quyền rút vốn đặc biệt
Trước đây các quốc gia thành viên khi còn tham gia vào hệ thống lãi suất cố định Bretton Woods, để duy trì lãi suất của mình, các quốc gia thành viên tham gia cần phải có lượng dự trữ chính thức là vàng do chính phủ hoặc ngân hàng trung ương nắm giữ và các ngoại tệ được chấp nhận rộng rãi trong thanh toán, là ngoại tệ dùng để mua nội tệ khi cần thiết nhằm duy trì tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, nguồn cung cấp hai loại tài sản dự trữ chính là vàng và đô la Mỹ không đủ để đáp ứng nhu cầu mở rộng thương mại quốc tế và dòng chảy tài chính ồ ạt lúc bấy giờ. Đồng thời, lúc bấy giờ, Hoa Kỳ có một chính sách tiền tệ tương đối thận trọng và không muốn gia tăng lượng đô la Mỹ trong lưu thông, lo ngại rằng nếu tiếp tục, đồng đô la Mỹ sẽ trở thành tài sản dự trữ quốc tế kém hấp dẫn. Chính vì vậy, cộng đồng quốc tế đã quyết định tạo ra một định dạng tài sản dự trữ quốc tế dưới sự bảo trợ của IMF. Đối với các nước đang phát triển, SDRs được coi là khá hấp dẫn do đây được coi là một kênh cấp tín dụng có chi phí thấp thông qua việc vay mượn, mua bán SDRs để bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước hoặc đổi lấy “ngoại tệ tự do sử dụng” nhằm xây dựng dự trữ ngoại hối nhà nước. Ngoài ra, SDRs còn được dùng như một đơn vị quy ước định danh dùng để xác định giá trị hàng hóa, dịch vụ, tài sản, thu nhập, chi phí,…Một số tổ chức chính thức quốc tế như BIS, ECB, ngân hàng phát triển khu vực nhận sử dụng SDRs trong giao dịch với nhau hoặc với các nước thành viên của IMF mặc dù IMF không phân bổ SDRs cho chính mình hoặc cho các tổ chức đó.
3. Các thành phần cấu thành nên quyền rút vốn đặc biệt
Thành phần cấu thành trong rổ tiền tệ SDRs bao gồm các đồng “ngoại tệ tự do sử dụng”, đây là những ngoại tệ mà quốc gia thành viên có được thông qua việc chuyển đổi từ SDRs. Việc xác định các tiêu chí của ngoại tệ để đưa vào rổ tiền tệ SDRs được Ủy ban điều hành của IMF thông qua vào năm 2000. Từng có thời điểm, rổ tiền tệ SDRs chỉ bao gồm 04 đồng ngoại tệ là đô la Mỹ, yên Nhật, bảng Anh, đồng tiền chung EU. Tuy nhiên mới đây, thông qua lần xem xét diễn ra vào ngày 30/11/2015, Ủy ban điều hành của IMF đã quyết định, kể từ ngày 01/10/2016, đồng nhân dân tệ của Trung quốc sẽ được bổ sung chính thức vào rổ tiền tệ SDRs. Cũng như các đồng tiền hiện đang có trong rổ tiền tệ SDRs, đồng nhân dân tệ của Trung quốc cũng được xem xét dựa trên các yếu tố sau:
- Quốc gia phát hành đồng tiền đó có sản lượng xuất khẩu hàng hóa dịch vụ lớn nhất trong vòng 5 năm tính từ 01 năm trở về trước ngày đánh giá. Đây được xem như là “cánh cổng” nhằm bảo đảm rằng đồng tiền được đưa vào rổ tiền tệ phải là đồng tiền được sử dụng rộng rãi bởi các quốc gia và các khu vực thành viên có vai trò quan trọng trong kinh tế toàn cầu. Tiêu chí này đã được đưa vào để đánh giá từ những năm 1970.
- Đến năm 2000, IMF đã bổ sung tiêu chí thứ hai, theo đó, đồng tiền được xem xét phải được IMF xác định là “ngoại tệ tự do sử dụng” theo quy định tại điều XXX(f) của Điều khoản thỏa thuận của IMF. Theo quy định này, một đồng tiền được coi là “tự do sử dụng” khi nó được sử dụng rộng rãi trong thanh toán giao dịch quốc tế và được mua bán rộng rãi trong thị trường ngoại hối. Khái niệm “ngoại tệ tự do sử dụng” liên quan đến việc sử dụng và mua bán trên thị trường quốc tế. Việc sử dụng rộng rãi và mua bán trên thị trường quốc tế được diễn ra ngay cả trong trường hợp đồng tiền đó còn chịu một số hạn chế đối với tài khoản vốn (đây vốn là hạn chế của trường hợp đồng nhân dân tệ).
Hai yếu tố này phải được đạt được đồng thời thì mới được xem xét để đưa vào rổ tiền tệ SDRs. Trường hợp của đồng nhân dân tệ, tại lần xem xét năm 2000, Ủy ban điều hành đã đưa ra nhận xét rằng đồng nhân dân tệ của Trung quốc đã đạt được tiêu chí về xuất khẩu (đứng thứ 3 thế giới) tuy nhiên đồng nhân dân tệ chưa được đưa vào rổ tiền SDRs do đồng tiền này chưa được đánh giá là “ngoại tệ tự do sử dụng”. Cùng với hàng loạt nỗ lực và sự can thiệp mang tính “hành chính” của Trung quốc như phá giá đồng nhân dân tệ, yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu hàng Trung quốc thanh toán hàng bằng nhân dân tệ,…. đã khiến cho đồng nhân dân tệ trở nên phổ biến hơn trong thanh toán quốc tế, dần dần thay thế vị trí của đô la Mỹ. Việc đồng nhân dân tệ được đưa vào rổ tiền tệ SDRs cho thấy sức hấp dẫn nhất định của đồng nhân dân tệ, đồng thời thực hiện những bước tiến trong tham vọng “toàn cầu hóa” của đồng nhân dân tệ buộc các quốc gia thành viên phải xem xét việc bổ sung đồng tiền này vào dự trữ ngoại hối nhà nước của mình. Đây có thể xem là thành công bước đầu của Trung Quốc. Tuy nhiên, IMF cũng khuyến cáo Trung Quốc trong việc tăng cường ổn định tài chính vĩ mô, chẳng hạn như tự do hóa hoàn toàn chế độ lãi suất, từng bước hướng tới xây dựng chế độ tỷ giá mang tính thị trường hơn cũng như vận hành trong nước hệ thống thanh toán mới về liên ngân hàng qua biên giới. Điều này cũng tạo ra áp lực về cải cách thể chế, quản lý tiền tệ và quản lý ngoại hối của Trung Quốc trước khi IMF có quyết định chính thức vào ngày 01/10/2016.
4. Mục đích của quyền rút vốn đặc biệt
- Quyền rút vốn đặc biệt có thể được sử dụng trong quan hệ tín dụng giữa các nước thành viên IMF với quỹ này cũng như trong thanh toán cán cân thương mại giữa các quốc gia. Khi giải ngân, có thể quy đổi ra một loại tiền tệ mạnh nào đó như Đô la Mỹ, Euro, hoặc Yên Nhật,... tùy tình huống.
- Quyền rút vốn đặc biệt cũng được sử dụng trong một số thỏa thuận, công ước quốc tế như Công ước Warsaw về trách nhiệm vật chất của các hãng hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hóa chuyên chở; sử dụng để tính toán cước bưu chính, viễn thông quốc tế theo thỏa thuận giữa các nước thành viên Liên minh Bưu chính Thế giới (Universal Postal Union), Liên minh Viễn thông Quốc tế (International Telecommunication Union). Tuy nhiên nó chỉ là đơn vị quy ước, chỉ được sử dụng để tính toán chứ không thực sự tồn tại trong lưu thông do vậy người ta không thể tiêu nó như các loại tiền tệ dùng trong lưu thông khác.
5. Cách thức sử dụng quyền rút vốn đặc biệt
Theo quy định tại khoản 1 Điều XV và Điều XVIII Điều khoản thỏa thuận của IMF, IMF phân bổ SDRs cho các quốc gia thành viên tương ứng với phần đóng góp (quota) của quốc gia đó cho IMF. Việc phân bổ SDRs được tin là một cách bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước với chi phí thấp, tránh việc phụ thuộc vào các khoản nợ trong và ngoài nước vốn có chi phí rất cao. Việc phân bổ SDRs được thực hiện cho giai đoạn kéo dài lên đến 05 năm, căn cứ vào nhu cầu mang tính toàn cầu dài hạn nhằm bổ sung tài sản dự trữ cho các quốc gia thành viên và phải dựa trên nguyên tắc là nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của IMF, tránh tình trạng ứ đọng trong nền kinh tế, cũng như tránh việc vượt quá yêu cầu và lạm phát.
Mặc dù việc tính toán để phân bổ SDRs nói chung được thực hiện 5 năm một lần nhằm đáp ứng nguồn lực dự trữ bổ sung trên phạm vi toàn cầu trong dài hạn nhưng từ khi ra đời cho đến nay, IMF mới quyết định phân bổ SDRs 2 lần. Lần thứ nhất trong giai đoạn 1970-1972 với tổng số 9,3 tỷ USD, lần thứ hai trong giai đoạn 1979-1981 đưa tổng số đã phân bổ lên 21,4 tỷ USD. Trong điều kiện chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hiện nay, vai trò của SDRs với tư cách là tài sản dự trữ bổ sung rất hạn chế, nó chủ yếu phát huy tác dụng như một đơn vị tính toán. Năm 1997, IMF đã phê chuẩn đề nghị về khoản phân bổ đặc biệt và một lần của SDRs để nâng tổng mức phân bổ lên gấp đôi (42,8 tỷ USD) do hơn 20% thành viên gia nhập IMF sau năm 1981 chưa từng được phân bổ SDRs. Cũng xuất phát từ thực trạng vai trò của SDRs đã bị hạn chế và một thực tế là tổng tài sản dự trữ của các quốc gia là khoảng 1,6 nghìn tỷ USD đang nằm ngủ trong khi nguồn lực nhằm đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc đang thiếu hụt, năm 2001, nhà tài phiệt George Soros và nhà kinh tế học Joseph Stiglitz đã đưa ra đề nghị dùng các khoản phân bổ SDRs cho đầu tư phát triển. Trước hết, họ đề nghị Mỹ phê chuẩn quyết định của IMF năm 1997 rồi sau đó việc phân bổ SDRs sẽ được tiến hành hàng năm. Ngân sách này phần lớn sẽ do các nước phát triển đóng góp và chỉ sử dụng cho các chương trình được IMF phê duyệt. Những chương trình này tập trung cho cung cấp hàng hóa công cộng, cải thiện mối quan hệ giữa khu vực công cộng với khu vực tư nhân...ở các nước đang phát triển như sức khỏe cộng đồng, giáo dục, cải cách hệ thống pháp lý..., riêng xóa đói giảm nghèo không nằm trong phạm vi chương trình. Chương trình sẽ được tiến hành không chỉ qua con đường chính phủ mà còn bởi các tổ chức phi chính phủ hay kết hợp giữa khu vực công cộng với khu vực tư nhân. Tuy vậy cho đến nay, tất cả mới chỉ dừng ở dự định và đề nghị.
Ngoài ra các quốc gia thành viên cũng có thể mua, bán SDRs phục vụ nhu cầu quốc gia như nhằm thực hiện nghĩa vụ với IMF, bổ sung thành phần dự trữ ngoại hối nhà nước. Việc mua, bán SDRs được thực hiện theo hai phương thức, một là dựa trên nguyên tắc tự nguyện giữa các quốc gia đối tác, hai là có sự can thiệp từ phía IMF trong việc chi định quốc gia thành viên đối tác. Cụ thể: Điểm b Khoản 2 Điều XIX Điều khoản thỏa thuận của IMF quy định: “Thông qua thỏa thuận giữa các quốc gia thành viên, quốc gia thành viên có thể sử dụng SDRs của mình để đổi lấy một lượng ngoại tệ tương ứng từ quốc gia thành viên khác”. Trong suốt hai thập kỷ qua, thị trường mua bán SDRs được thực hiện dựa trên nguyên tắc tự nguyện bởi các quốc gia thành viên với số lượng do các bên thỏa thuận. Tính đến nay đã có khoảng 32 giao dịch tượng tự diễn ra trong đó 19 giao dịch phát sinh mới kể từ sự kiện phân bổ SDRs vào năm 2009. Ngoài ra nếu quốc gia thành viên không tự tìm được quốc gia thành viên đối tác, điểm a khoản 2 Điều XIX Điều khoản thỏa thuận của IMF quy định “quốc gia thành viên có thể dùng SDR của mình để đổi lấy lượng ngoại tệ tương ứng từ quốc gia được chỉ định”. Quốc gia được chỉ định ở đây do IMF lựa chọn trên nguyên tắc quốc gia được chỉ định là quốc gia có cán cân thanh toán và nguồn dự trữ ngoại hối đủ mạnh, tuy nhiên cũng có trường hợp quốc gia được chỉ định có thể là quốc gia có nguồn dự trữ ngoại hối mạnh mặc dù có thể đang gặp khó khăn về cán cân thanh toán. Quy định này cũng hoàn toàn hợp lý bởi mục đích chung của quốc gia yêu cầu chuyển đổi SDRs là đồng ngoại tệ là ngoại tệ tự do sử dụng vì vậy khi SDRs chỉ là công cụ để chuyển đổi thì việc quốc gia chỉ định có khó khăn về cán cân thanh toán hay không không quan trọng bằng việc quốc gia được chỉ định có nguồn dự trữ ngoại hối dồi dào. Ngoài ra, IMF cũng chỉ định quốc gia thực hiện giao dịch trong trường hợp quốc gia đó có nhu cầu về SDRs nhằm bổ sung phần SDRs thiếu hụt. Để thực hiện giao dịch với quốc gia thành viên chỉ định, quốc gia thành viên yêu cầu chỉ được sử dụng SDRs của mình để trao đổi trong trường hợp quốc gia đó có nhu cầu liên quan đến cán cân thanh toán, trạng thái dự trữ ngoại hối, bổ sung nguồn dự trữ ngoại hối và không phải chỉ vì cho một mục đích duy nhất nhằm thay đổi cấu phần của dự trữ ngoại hối của quốc gia mình. Cơ chế của SDRs là tự tạo ra nguồn tài chính và thu phí từ việc phân bổ SDRs rồi dùng số tiền này để trả lãi suất cho các quốc gia thành viên nắm giữ SDRs. Nếu quốc gia thành viên không sử dụng số SDRs được phân bổ, thì phí phân bổ bằng lãi suất nắm giữ. Tuy nhiên, nếu quốc gia thành viên nắm giữ lượng SDRs nhiều hơn số SDRs đã được phân bổ thì quốc gia đó kiếm được khoản tiền tương ứng với lãi suất nắm giữ là phần chênh lệch với chi phí phân bổ. Ngược lại, nếu quốc gia thành viên nắm giữ ít hơn số SDRs đã được phân bổ thì quốc gia sẽ phải thanh toán phần lãi suất tương ứng với phần ít hơn đó.