Luật sư tư vấn:

Căn cứ pháp lý được quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi năm 2009) và  Nghị định số 22/2018/NĐ-CP có thể phân tích như sau:

 

1. Quyền tác giả là gì?

Khoản 2 Điều 1 của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 quy định:

"Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu."

Như vậy, quyền tác giả bao gồm những quyền cụ thể mà pháp luật trao cho tác giả hay chủ sở hữu của một tác phẩm về việc đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Sao chép, điều chỉnh hay truyền tải, phổ biến tác phẩm đến với công chúng bằng và việc cho phép người khác tham gia vào quá trình khai thác tác phẩm.

 

2. Khái quát về giới hạn quyền sao chép

Tác giả, chủ sở hữu quyền giả được trao những độc quyền trong việc sử dụng, khai thác tác phẩm để bù đắp cho những nỗ lực sáng tạo của họ. Tuy nhiên, sự độc quyền này có thể dẫn tới hạn chế khả năng tiếp cận của cộng đồng đối với các sản phẩm sáng tạo, bóp méo cạnh tranh, cản trở lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Do vậy, để cân bằng lợi ích của chủ thể nắm giữ quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích của công chúng trong việc tiếp cận, sử dụng tác phẩm, pháp luật của quốc gia và quốc tế đều có những quy định về giới hạn quyền tác giả, trong đó quyền sao chép cũng không phải là một ngoại lệ.

Khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) giải thích thuật ngữ sao chép: “là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao tác phẩm hoặc bản ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử”.

Trong suốt thời hạn bảo hộ quyền tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả giữ độc quyền đối với việc sao chép tác phẩm. Tuy nhiên, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam cũng như pháp luật các nước đều cho phép sử dụng tác phẩm, bao gồm sao chép tác phẩm trong những trường hợp nhất định mà không phải xin phép, không phải trả thù lao.

 

3. Quy định của pháp luật về quyền sao chép tác phẩm trong các cơ sở giáo dục đại học

Quyền sao chép tác phẩm là một trong các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả, do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử.

Do đó, trừ trường hợp ngoại lệ do pháp luật quy định, thì mọi hình thức sao chép tác phẩm phải có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền tác giả. Việc sao chép được đặt ra trong hai bối cảnh: (1) sao chép những tác phẩm đã được công bố, xuất bản và (2) sao chép những tác phẩm chưa được công bố, xuất bản. Công bố tác phẩm là tác phẩm lần đầu được làm một số lượng bản sao nhất định đến với công chúng, thông thường, đó là một ấn phẩm được xuất bản bởi một nhà in có giấy phép xuất bản. Nếu có hành vi xâm phạm Quyền sao chép, thì chủ sở hữu quyền tác giả dễ có các chứng cứ để chứng minh, bảo vệ quyền của mình. Còn đối với trường hợp tác phẩm chưa được công bố, thì việc chứng minh có phần khó khăn hơn. Bởi khi đó, chủ sở hữu quyền tác giả phải chứng minh quyền của mình đó là: tác phẩm đó do mình sáng tạo ra một cách độc lập hoặc mình là người được tặng cho, được thừa kế hay được chuyển giao quyền tài sản của quyền tác giả; bởi tác phẩm chỉ cần hình thành dưới một hình thức nhất định có thể nhận biết được, thì đã được pháp luật bảo vệ quyền tác giả. Chẳng hạn như một nghiên cứu sinh chuẩn bị bảo vệ chính thức luận án tiến sĩ thì phát hiện ra nội dung luận án của mình đã bị một người khác sao chép gần như toàn bộ dưới dạng sách chuyên khảo và đã được xuất bản, lúc này để chứng minh có hành vi xâm phạm thì không hề đơn giản. Do vậy, trước khi tác phẩm được công bố chính thức, thì cần có cơ chế để bảo vệ bản quyền cho nghiên cứu sinh. Bởi lẽ, theo quy định, luận án của nghiên cứu sinh chỉ được gửi cho các thành viên hội đồng bằng file cứng, nhưng khả năng nội dung luận án bị “ăn cắp” vẫn có khả năng xảy ra, nếu không có quy định cụ thể riêng biệt cho trường hợp này.

Các trường hợp ngoại lệ của Quyền sao chép được quy định như sau:

  • Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;
  • Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu. Quy định này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính.

Việc tự sao chép phải thỏa mãn điều kiện “không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm” (khoản 2 Điều 25 Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH ngày 25/6/2019 Luật Sở hữu trí tuệ).

 

4. Quy định của pháp luật về quyền trích dẫn tác phẩm trong các cơ sở giáo dục đại học

Theo Từ điển và từ ngữ Việt Nam, thì trích dẫn là “rút từ tác phẩm khác một câu hay một đoạn để làm sáng tỏ lý luận của mình”; hoặc có tác giả định nghĩa: “trích dẫn là việc sử dụng một tác phẩm (không đáng kể) của người khác để nêu bật ý tác giả”. Có thể nói, các định nghĩa này vẫn mang tính bao quát chung, mà không nêu cụ thể phạm vi, giới hạn của việc trích dẫn hợp pháp. Theo Điều 23 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan, như sau: Các trường hợp trích dẫn tác phẩm không bị coi là hành vi xâm phạm quyền tác giả bao gồm:

- Trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình;

- trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;

- trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ý tác giả, không nhằm mục đích thương mại.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, quyền trích dẫn tác phẩm chỉ được coi là hợp pháp nếu thỏa mãn các điều kiện: (1) việc trích dẫn phải đảm bảo tính hợp lý; (2) việc trích dẫn phải chính xác; (3) mục đích của trích dẫn là sử dụng thông tin được trích dẫn để làm rõ ý tưởng của mình trong tác phẩm của mình (để minh họa, bình luận hoặc để đưa tin trong các ấn phẩm báo chí) và không nhằm mục đích thương mại.

Sao chép và trích dẫn là hai hành vi được thực hiện có sự liên quan đến nhau trong hoạt động nghiên cứu, đào tạo, nhưng là hai hành vi độc lập, mà chúng ta cần phải có sự phân biệt. Thứ nhất, về hành vi sao chép: là làm bản sao tác phẩm (có thể sao chép toàn bộ hoặc một phần tác phẩm) để làm tài liệu nghiên cứu, học tập; còn trích dẫn tác phẩm (trích dẫn ý tưởng của tác giả khác, bằng ngôn ngữ của mình hoặc trích dẫn y nguyên lời văn, câu chữ của tác giả khác trong tác phẩm của họ và được sử dụng trong tác phẩm của mình). Thứ hai, về mục đích: sao chép là làm bản sao tác phẩm từ tác phẩm gốc, theo đó, người sao chép vẫn có được toàn bộ nội dung của tác phẩm mà  không phải mua tác phẩm gốc của tác giả; trích dẫn là sử dụng tác phẩm của người khác để làm rõ ý tưởng của mình trong công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, nhiều học viên, giảng viên tại các cơ sở đào tạo đại học đã thực hiện việc sao chép trong trích dẫn tác phẩm. Điều này được hiểu là nhiều luận văn, luận án, tiểu luận… của người học đã sao chép y nguyên tác phẩm của người khác trong tác phẩm của mình và sử dụng luôn ý tưởng của tác phẩm của người khác thành ý tưởng của mình mà không trích dẫn, nêu nguồn cụ thể.

 

5. Thư viện có được sao chép tác phẩm dưới dạng tài liệu in và số hóa dưới dạng điện tử?

Các thư viện hiện nay thường đi theo chiến lược phát triển song song hai loại hình là tài liệu in và tài liệu điện tử:

  • Tài liệu in của các thư viện thường được tập hợp chủ yếu từ ba nguồn: nguồn mua, nguồn lưu chiểu và nguồn tặng hay tài trợ.
  • Tài liệu điện tử thường được tập hợp từ các nguồn: nguồn thông tin điện tử mua hoặc được cho tặng, thuê các cơ sở dữ liệu và số hóa các nguồn tài liệu in của thư viện.

Căn cứ pháp lý

Dẫn chiếu quy định của pháp luật, một trong những ngoại lệ đối với trường hợp sao chép tác phẩm không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao đó là sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu (điểm đ khoản 1 Điều 25 Luật SHTT)

Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP ngày 23/2/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật sở hữu trí tuệ năm 2009 về quyền tác giả, quyền liên quan (Nghị định số 22/2018/NĐ-CP) hướng dẫn cụ thể: “Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật sở hữu trí tuệ là việc sao chép không quá một bản. Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số”.

Đánh giá

Căn cứ quy định trên, trong trường hợp lưu trữ bản sao kỹ thuật số, phải đáp ứng được các điều kiện:

  • Việc lưu trữ trong thư viện nhằm mục đích nghiên cứu.
  • Sao chép bản sao dưới dạng kỹ thuật số không quá một bản.
  • Việc sao chép bản sao để lưu trữ không được làm phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm cũng như gây thiệt hại không chính đáng cho lợi ích của chủ thể quyền tác giả.

Như vậy, nếu thư viện đã thực hiện việc sao chép tác phẩm dưới dạng tài liệu in thì sẽ không được số hóa tài liệu dưới dạng điện tử (sao chép không quá một bản).

Xu thế hiện nay cho thấy, để giảm thiểu số lượng đầu sách giấy hay bản sao tác phẩm lưu trữ trong thư viện, vì không gian lưu trữ sách có giới hạn, việc lựa chọn lưu trữ các bản sao kỹ thuật số là một nhu cầu thiết yếu. Do đó, quy định giới hạn số lượng bản sao, phần nào làm giảm khả năng tiếp cận tri thức của bộ phận người sử dụng thư viện, đặc biệt là đối tượng học sinh, sinh viên.

Bên cạnh đó, trong trường hợp nào thư viện được cho phép sao chép để lưu trữ, hiện nay vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Vì Luật SHTT chỉ đưa ra nguyên tắc chung là thư viện được sao chép tác phẩm để lưu trữ nhằm mục đích nghiên cứu mà không quy định chi tiết, cụ thể. Có quan điểm cho rằng quyền này được phép khi bản gốc không thể lưu trữ được, tuy nhiên số đông lại cho rằng thư viện chỉ được quyền lưu trữ nhằm mục đích công cộng, phi lợi nhuận.

 

6. Một số câu hỏi thường gặp về quyền tác giả, tác phẩm

6.1 Quyền nhân thân của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm?

Quyền nhân thân của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm bao gồm:

  • Quyền đặt tên cho tác phẩm, đặt theo nghĩa đen hoặc theo nghĩa bóng hoặc vô đề (không đề);
  • Quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm (một bút danh hoặc nhiều bút danh);
  • Tác giả được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, phổ biến, sử dụng;
  • Tác giả có quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm do mình sáng tạo ra;
  • Tác giả có quyền cho phép hoặc không cho phép người khác sửa đổi nội dung tác phẩm.

 

6.2 Khái quát về quyền tác giả ở Việt Nam?

Pháp luật của Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều có những quy định quyền tác giả trong lĩnh vực sáng tạo văn học, nghệ thuật, khoa học. Quyền tác giả là quyền của người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, công trình. Chủ thể của quyền tác giả không phụ thuộc vào độ tuổi, trình độ học vấn và phương thức tạo ra tác phẩm, công trình thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học. Vậy quyền tác giả là quyền của người sáng tạo ra tác phẩm, công trình được hưởng các quyền nhân thân và quyền tài sản do pháp luật quy định. Thời điểm phát sinh quyền tác giả được xác định kể từ khi tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học được tác giả sáng tạo ra (được thể hiện) dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt tác phẩm đã công bố hoặc chưa công bố, đăng ký bảo hộ hoặc chưa đăng ký bảo hộ. Pháp luật về quyền tác giả của các quốc gia đều có những điểm tương đồng do đặc điểm của các sản phẩm trí tuệ chi phối.

Ví dụ, pháp luật của Hoa Kỳ về quyền tác giả cũng có những điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam về cùng một lĩnh vực ở chỗ: Việc đăng ký quyền tác giả là vì lợi ích của tác giả với tư cách là người sở hữu tác phẩm nhưng pháp luật Hoa Kỳ không bắt buộc tác giả phải đăng ký tác phẩm của mình.

 

6.3 Các quyền của đồng tác giả đồng thời là chủ sở hữu của tác phẩm?

Các đồng tác giả là chủ sở hữu chung đối với tác phẩm. Với tư cách là đồng tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, do vậy đồng tác giả được hưởng những quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với tác phẩm do họ cùng sáng tạo.