Quyền sao chụp hồ sơ không chỉ là một quy định mang tính kỹ thuật, mà còn thể hiện tinh thần bảo đảm quyền con người và nguyên tắc tranh tụng được Hiến pháp và Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận. Việc các cơ quan tiến hành tố tụng cho phép luật sư tiếp cận, đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu đúng thời điểm, đúng phạm vi là nền tảng để luật sư thực hiện vai trò giám sát quyền lực tư pháp, góp phần phòng ngừa oan sai và nâng cao chất lượng xét xử. Chính vì vậy, việc tìm hiểu quyền sao chụp tài liệu, hồ sơ vụ án hình sự của luật sư không chỉ giúp làm rõ nội dung pháp lý quan trọng của tố tụng hình sự hiện nay mà còn góp phần hoàn thiện nhận thức về vị trí, vai trò của luật sư trong việc bảo vệ công lý.

1. Cơ sở pháp lý về quyền sao chụp hồ sơ hình sự

Quyền của người bào chữa trong việc tiếp cận và nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là một yếu tố then chốt, mang tính quyết định đối với chất lượng hoạt động bào chữa và việc đảm bảo nguyên tắc tranh tụng công bằng trong tố tụng hình sự. Quyền này đã được pháp luật hóa một cách cụ thể tại Điểm I, Khoản 1, Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) 2015 sửa đổi, bổ sung 2025, quy định rõ người bào chữa có quyền “Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra”.   

Việc tiếp cận và sao chụp hồ sơ vụ án không chỉ đơn thuần là một quyền năng pháp lý của Luật sư hay người bào chữa mà còn đặt ra nghĩa vụ tương ứng đối với Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nghĩa vụ này nhằm đảm bảo rằng quyền bào chữa của người bị buộc tội được thực hiện đầy đủ và hiệu quả. Trong trường hợp có yêu cầu từ phía người bào chữa sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phải bố trí thời gian và địa điểm hợp lý để người bào chữa thực hiện quyền đọc, ghi chép, và sao chụp tài liệu.   

Quyền này phản ánh vai trò đặc biệt quan trọng của Luật sư trong việc xem xét các tài liệu, chứng cứ, biên bản hoạt động tố tụng liên quan. Khả năng sao chụp hồ sơ vụ án là nền tảng để Luật sư nghiên cứu chuyên sâu, xây dựng chiến lược gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, qua đó đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp tối đa cho người mà mình bào chữa.

Hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các văn bản, tài liệu được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập lập ra hoặc do các bên cung cấp trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, được sắp xếp theo một trình tự nhất định phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài. Hồ sơ vụ án tập hợp những quyết định về tố tụng, những văn bản liên quan đến hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ như biên bản bắt người, biên bản giao nhận các tài liệu, biên bản khám xét, biên bản thu giữ tài liệu, đồ vật, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản giám định... Hồ sơ còn gồm những tài liệu có giá trị chứng cứ chứng minh có hay không có hành vi phạm tội. Và để nắm được nội dung vụ án thì cần phải có hồ sơ vụ án. Vì trong quá trình tham gia tố tụng, nghiên cứu hồ sơ vụ án là khâu quan trọng, giúp Luật sư nắm được nội dung sự việc để đưa ra những căn cứ pháp lý, lập luận sắc bén trong vụ án.

2. Quyền sao chụp tài liệu, hồ sơ vụ án hình sự của luật sư

2.1. Thời điểm phát sinh quyền sao chụp

Trước khi tìm hiểu khi nào Luật sư được tiếp cận với hồ sơ vụ án hình sự thì chúng ta cần biết Luật sư có thể tham gia từ giai đoạn tố tụng nào. Luật sư tham gia vào vụ án hình sự thường dưới tư cách của người bào chữa. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa. Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 72 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì Luật sư có thể là người bào chữa.

Theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015  sửa đổi, bổ sung 2025, quy định về thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng như sau:

- Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can;

- Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ;

- Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.

Căn cứ những quy định trên, có thể thấy Luật sư có thể tham gia tố tụng để bào chữa khi có giấy mời luật sư. Sau đó Luật sư sẽ tiến hành những thủ tục cần thiết để được cấp Giấy chứng nhận bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và những văn bản có liên quan.

Về quyền sao chụp tài liệu, hồ sơ vụ án hình sự của người bào chữa, Điều 73 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 có quy định quyền và nghĩa vụ của người bào chữa, trong đó, người bào chữa có quyền: Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra.

Thời điểm pháp luật quy định người bào chữa được quyền đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu hồ sơ vụ án là giới hạn thủ tục quan trọng nhất, đó là từ khi kết thúc điều tra. Giới hạn này hàm ý rằng trong giai đoạn điều tra, Luật sư chỉ được quyền gặp và hỏi người bị buộc tội, có mặt khi lấy lời khai, hỏi cung, hoặc tham gia một số hoạt động điều tra khác theo quy định. Luật sư không được tiếp cận hồ sơ tài liệu chính thức trong giai đoạn này. Việc hạn chế tiếp cận hồ sơ trong giai đoạn điều tra là một điểm yếu cố hữu trong việc đảm bảo nguyên tắc tranh tụng công bằng từ sớm.   

Khái niệm "kết thúc điều tra" được xác định rõ ràng qua sự chuyển giao hồ sơ. Điều này xảy ra khi Cơ quan điều tra chuyển toàn bộ hồ sơ và Bản kết luận điều tra sang Viện kiểm sát (giai đoạn truy tố), hoặc khi Viện kiểm sát chuyển toàn bộ hồ sơ và Bản Cáo trạng sang Tòa án (giai đoạn xét xử). Do đó, thẩm quyền giải quyết yêu cầu sao chụp sẽ thay đổi tùy thuộc vào cơ quan đang thụ lý hồ sơ tại thời điểm đó.   

2.2. Thời điểm mà Luật sư được tiếp cận, sao chụp tài liệu, hồ sơ vụ án hình sự

Người bào chữa có quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa. Để bảo đảm thực hiện quyền đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án của người bào chữa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về việc đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án tại Điều 82 như sau:

- Sau khi kết thúc điều tra, nếu có yêu cầu đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm để người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án.

- Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo đó, sau khi kết thúc điều tra, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm để người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án. Người bào chữa có quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu bằng các phương tiện điện tử nhưng không được đưa hồ sơ vụ án ra khỏi nơi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để sao chụp tài liệu. Khi nhận hồ sơ từ cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đọc, ghi chép, sao chụp, người bào chữa phải kiểm tra tài liệu, bút lục có trong hồ sơ được giao.

Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp người bào chữa cố ý để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy theo nguyên nhân và bối cảnh xảy ra sự việc, nếu về mặt chủ quan cố ý thực hiện các hành vi nêu trên thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc theo quy định tại Điều 375 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lưu ý: Tòa án không công khai nội dung tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự nhưng phải thông báo cho đương sự biết những tài liệu, chứng cứ không được công khai.

2.3. Quy trình và thẩm quyền giải quyết yêu cầu theo giai đoạn

Yêu cầu sao chụp tài liệu hồ sơ vụ án thường được thực hiện thông qua việc nộp một Đơn xin sao chụp hồ sơ vụ án, trình bày rõ mục đích (nghiên cứu hồ sơ, thực hiện trách nhiệm bào chữa) và phạm vi tài liệu cần sao chụp.   

Trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm để thực hiện quyền này thuộc về Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang nắm giữ hồ sơ vụ án tại từng giai đoạn.   

Vấn đề chi phí sao chụp tài liệu là một nội dung đang được pháp luật quan tâm nhằm hoàn thiện cơ chế đảm bảo quyền bào chữa. Trong tố tụng hình sự, đã có đề xuất cụ thể từ Tòa án nhân dân tối cao về mức chi phí này.Theo Dự thảo Pháp lệnh Chi phí tố tụng, trường hợp bị can hoặc người bào chữa yêu cầu sao chụp tài liệu trong vụ án hình sự, họ phải chịu chi phí sao chụp là 1.500 đồng/trang A4. Mức phí này đã được quy định áp dụng đối với việc sao chụp tài liệu tại Tòa án theo mục 9, khoản 3, Điều 4 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Việc đề xuất chính thức hóa mức chi phí và mở rộng phạm vi áp dụng cho cả giai đoạn điều tra và truy tố cho thấy nỗ lực nhằm pháp điển hóa các chi phí phát sinh, đảm bảo tính minh bạch và tránh sự tùy tiện trong thu phí. Tuy nhiên, một số chuyên gia pháp lý đã kiến nghị rằng thay vì chỉ thu phí trên hồ sơ bản giấy, Cơ quan tố tụng nên tiến hành số hóa hồ sơ và thu phí trên chính dữ liệu đã được số hóa này. Giải pháp số hóa không chỉ hiện đại hóa thủ tục hành chính mà còn giảm đáng kể gánh nặng về chi phí vật chất và thời gian cho cả Cơ quan tố tụng và người bào chữa.

3. Phạm vi tài liệu được phép sao chụp

Phạm vi tài liệu người bào chữa được phép sao chụp được pháp luật giới hạn là "những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa". Nguyên tắc này tạo ra một sự ràng buộc về mặt pháp lý, nhưng trên thực tế, nó đặt ra yêu cầu phải có sự lý giải và lập luận chiến lược từ phía người bào chữa.   

Để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho người bị buộc tội, phạm vi tài liệu được sao chụp cần được hiểu một cách mở rộng. Cụ thể, tài liệu "liên quan đến việc bào chữa" không chỉ bao gồm các chứng cứ gỡ tội mà còn phải bao gồm các chứng cứ buộc tội. Luật sư cần phải sao chụp các tài liệu buộc tội để nghiên cứu, phân tích, và xây dựng phương án phản bác hoặc làm rõ tính không hợp pháp, không đáng tin cậy của các chứng cứ đó. Bản thân bị can cũng được quyền đọc, ghi chép bản sao tài liệu liên quan đến việc buộc tội và gỡ tội.   

Tuy nhiên, trong thực tiễn, Cơ quan tố tụng đôi khi lạm dụng điều khoản này để từ chối cung cấp một số tài liệu với lý do "không liên quan". Người bào chữa cần lập luận rằng khi vụ án đã kết thúc điều tra, trừ tài liệu tuyệt mật, toàn bộ hồ sơ vụ án có thể ảnh hưởng đến chiến lược bào chữa, và việc phân định tính "liên quan" nên thuộc về nhận định chuyên môn của Luật sư chứ không phải quyết định hành chính của Cơ quan Tố tụng. 

4. Kết luận

Quyền đọc, ghi chép và sao chụp hồ sơ vụ án hình sự là một quyền pháp định của người bào chữa, được quy định cụ thể tại Điểm l, Khoản 1, Điều 73 BLTTHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2025. Quyền này chỉ phát sinh sau khi kết thúc điều tra và phải tuân thủ giới hạn tuyệt đối về tài liệu bí mật Nhà nước. Mặc dù có cơ sở pháp lý vững chắc, quyền này trong thực tiễn đang gặp phải nhiều rào cản nghiêm trọng, chủ yếu do tồn tại cơ chế "xin cho," sự lạm dụng việc phân loại tài liệu mật, và quan trọng nhất là sự thiếu hụt quy định về thời hạn giải quyết yêu cầu sao chụp. Những hành vi cản trở này trực tiếp vi phạm pháp luật tố tụng và làm suy yếu nguyên tắc tranh tụng.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900 6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./