1. Công ty có được giữ bản chính giấy tờ tùy thân của người lao động hay không ?
Căn cứ theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động cụ thể như sau:
- Hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động:
+ Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.
+ Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.
+ Buộc người lao động thực hiện hợp đồng lao động để trả nợ cho người sử dụng lao động.
Như vậy, theo quy định nêu trên, người sử dụng lao động không được phép giữ bản chính giấy tờ tùy thân hay văn bằng, chứng chỉ của người lao động. Do đó, việc công ty kia đòi giữ bản chính giấy tờ tùy thân của chị là đã vi phạm pháp luật.
Việc công ty giữ bản chính giấy tờ tùy thân của người lao động sẽ bị xử phạt như theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định về việc xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động như sau:
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
+ Giữ bản chính giấy tờ tùy thân, văn bằng hoặc chứng chỉ của người lao động khi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động;
+ Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động;
+ Giao kết hợp đồng lao động đối với người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi mà không có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người đó.
Lưu ý: theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mức phạt quy định trên đây là mức phạt đối với cá nhân. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Như vậy, theo quy định nêu trên, nếu công ty giữ bản chính giấy tờ tùy thân của người lao động thì có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 40 - 50 triệu đồng (mức phạt đối với tổ chức), đối với cá nhân thì mức phạt tiền sẽ từ 20 - 25 triệu đồng. Bên cạnh đó, theo điểm d khoản 3 Điều 9 Nghị định 12/2022/NĐ-CP thì công ty còn phải trả lại bản chính giấy tờ tùy thân đã giữ của người lao động.
2. Người lao động không muốn đi xuất khẩu lao động nữa thì công ty có quyền ép buộc không?
Khi người lao động không còn có nhu cầu xuất khẩu lao động nữa thì có quyền được rút hồ sơ và các giấy tờ đã nộp tại công ty xuất khẩu lao động cũng như những khoản tiền mà người lao động đã nộp sau khi đã trừ những khoản phí do công ty chi trả như chi phí làm hồ sơ, chi phí khám sức khỏe, học phí, chi phí tài liệu học tập, sinh hoạt, ăn ở trong thời gian bồi dưỡng đào tạo kiến thức, chi phí làm thủ tục nhập cảnh. Điều này được quy định trong Nghị định 38/2020/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều về Luật người lao động Việt Nam làm việc tại nước ngoài theo hợp đồng được Bộ Lao động Thương Binh và xã hội ban hành. Công ty không có quyền ép buộc người lao động đi xuất khẩu lao động nếu người lao động không muốn.
* Rút tiền đặt cọc đã đóng hồ sơ cho việc đi xuất khẩu lao động.
- Doanh nghiệp dịch vụ phải cam kết về thời gian chờ xuất cảnh cho người lao động khi trúng tuyển được xuất khẩu làm việc tại nước bạn.
- Trường hợp công ty dịch vụ đã cam kết, nếu không muốn đi xuất khẩu lao động nữa thì người lao động sẽ được công ty dịch vụ trả lại hồ sơ, các khoản phí mà công ty dịch vụ bỏ ra thì người lao động sẽ phải chịu.
- Trường hợp quá thời gian cam kết mà công ty dịch vụ vẫn chưa đưa người lao động ra nước ngoài làm việc thì buộc làm rõ lý do cho người lao động biết. Nếu trong thời gian 15 ngày người lao động cho biết không đi xuất khẩu lao động nữa thì mọi khoản chi phí do người lao động nộp, công ty dịch vụ phải hoàn trả lại.
* Thanh toán chi phí dùng để làm thủ tục:
Khi đã quá thời hạn cam kết mà doanh nghiệp dịch vụ chưa đưa được lao động đi xuất khẩu lao động thì cần thông báo rõ lý do. Nếu như lao động không có nhu cầu đi làm nữa thì trong thời gian 15 ngày kể từ khi người lao động thông báo không có nhu cầu làm việc nữa thì doanh nghiệp cần trả lại cho người lao động hồ sơ và những khoản chi phí mà người lao động đã nộp cho doanh nghiệp như: chi phí làm hồ sơ, chi phí học phí, chi phí làm thủ tục nhập cảnh, chi phí dịch vụ, tiền môi giới, tiền vé máy bay và tiến hành làm thủ tục hoàn trả lại tiền kỹ quý cho người lao động.
* Trường hợp công ty không hoàn lại chi phí cho người lao động
Khi người lao động muốn rút hồ sơ nhưng công ty không hoàn phí thì có thể khiếu nại đến Phòng Lao động Thương binh và Xã hội để yêu cầu hòa giải hoặc lao động có thể khởi kiện với Tòa án nhân dân cấp huyện tại nơi doanh nghiệp đặt trụ sở để được yêu cầu giải quyết.
Căn cứ theo Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
- Thời hạn yêu cầu hòa giải viên thực hiện hòa giải tranh chấp là 06 tháng kể từ khi phát hiện hành vi mà các bên tranh chấp.
- Thời hạn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp là 01 năm kể từ khi phát hiện những hành vi mà các bên tranh chấp.
3. Rút hồ sơ đi xuất khẩu lao động thì có phải bồi thường cho công ty không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết thực hiện hợp đồng lao động như sau:
- Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.
Như vậy, người lao động muốn rút hồ sơ xuất khẩu lao động đã trúng tuyển thì vẫn hoàn toàn có thể, người lao động được quyền yêu cầu công ty trả lại tiền mà công ty đã giữ nếu hai bên không có thoả thuận nào khác.
Khi người lao động rút hồ sơ sẽ phải thanh toán các khoản phí mà công ty đã bỏ ra cho người lao động trước đó đến lúc mình thi tuyển đi xuất khẩu lao động. Vấn đề bồi thường thiệt hại được đặt ra trong trường hợp có thiệt hại xảy ra do lỗi đơn phương hủy hợp đồng của người lao động. Nếu trong trường hợp tự ý chấm dứt hợp đồng với Công ty không có lý do và công ty chứng minh được có thiệt hại xảy ra thì ngoài khoản tiền đặt cọc đã nộp vào công ty thì phải bồi thường thêm cho công ty theo đúng thiệt hại hợp lý mà công ty chứng minh được. Nếu không có thiệt hại gì xảy ra mà phía công ty vẫn yêu cầu bồi thường là không phù hợp với quy định của pháp luật.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề trên. Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng gọi tới số 1900.6162 để được hỗ trợ. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn !