1. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ khi không đăng ký kết hôn ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Không có đăng ký kết hôn người cha có quyền nuôi con không?

Cảm ơn luật sư!

Người gửi: nguyen thi dau

Căn cứ Luật hôn nhân và gia đình 2014:

“Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”

"Điều 15. Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con".

Theo đó, việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con sẽ giải quyết theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

"Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

"Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Do vậy, bạn có thể yêu cầu Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi bạn và chồng đang cư trú để giải quyết vấn đề này.

Trân trọng cám ơn!

>> Xem thêm:  Thuận tình ly hôn nhưng làm mất giấy chứng nhận kết hôn?

2. Không đăng ký kết hôn có thể làm khai sinh cho con không ?

Thưa luật sư, tôi và bạn gái tôi đám cưới, sống với nhau và có một đứa con chung nhưng chúng tôi chưa đăng ký kết hôn. Hiện tôi và cô ấy đã chia tay, vậy tôi có thể làm khai sinh cho con tôi được không?
Tôi xin cảm ơn!
Người gửi: Quang Quách

Tư vấn thủ tục khai sinh cho con

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gọi:1900.6162

Trả lời:

Do bạn và mẹ của bé không đăng ký kết hôn nên con chung của hai người là con ngoài giá thú. Thủ tục đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú được quy định như sau:

1.1 Về trình tự thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú:

- Công dân có yêu cầu nộp hồ sơ qua bộ phận một cửa (nếu có) Ủy ban nhân dân cấp xã/phường/thị trấn có thẩm quyền.

- Cán bộ tư pháp hộ tịch sau khi kiểm tra thấy đủ giấy tờ hợp lệ thì ghi vào sổ đăng ký khai sinh và bản chính giấy đăng ký khai sinh. Chủ tịch hoặc phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ký và cấp bản chính giấy đăng ký khai sinh cho người đi đăng ký khai sinh. Bản sao giấy đăng ký khai sinh cấp theo yếu cầu của đương sự.

Trong trường hợp người đi đăng ký khai sinh chưa nộp đủ giấy tờ hoặc cần phải xác minh thêm thì cán bộ tư pháp hộ tịch viết phiếu hẹn giải quyết và trả kết quả.

- Nhận kết quả tại (bộ phận một cửa) Uỷ ban nhân dân cấp xã.

1.2 Cách thức thực hiện:

Trực tiếp tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người mẹ thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi trẻ em đang sinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh.

1.3 Thành phần, số lượng hồ sơ:

+ Giấy chứng sinh (theo mẫu);

+ Nếu trẻ sinh ra ngoài cơ sở y tế thì Giấy chứng sinh được thay bằng: Văn bản xác nhận của người làm chứng (người làm chứng phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và biết rõ sự việc làm chứng; người làm chứng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực mà mình làm chứng);

+ Trong trường hợp không có người làm chứng thì người đi khai sinh phải làm giấy cam đoan về sự việc sinh là có thực.

+ Bản sao sổ hộ khẩu của người mẹ, bản sao Chứng minh nhân dân của người đi làm giấy khai sinh.

+ Tờ khai đăng ký nhận con (theo mẫu) nếu có người nhận là cha của trẻ tại thời điểm đi đăng ký khai sinh là có thực.

+ Giấy tờ chứng minh về quan hệ cha, con (nếu có).

- Số lượng hồ sơ: 01 bộ

Thời hạn giải quyết: 03 ngày làm việc, trong trường hợp phức tạp cần phải xác minh là 05 ngày làm việc.

Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân

Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định: Uỷ ban nhân dân cấp xã

- Cơ quan trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính: Uỷ ban nhân dân cấp xã

Kết quả thực hiện thủ tục hành chính:

Giấy khai sinh (bản chính), nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống.

Lệ phí: Không

Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Không

Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính:

- Giấy tờ phải xuất trình:

+ Hộ khẩu hoặc giấy đăng ký tạm trú có thời hạn của người mẹ hoặc hộ khẩu thường trú, Chứng minh nhân dân của người mẹ.

+ Chứng minh nhân dân của người nhận làm cha (nếu có người nhận là cha của trẻ).

Như vậy, nếu như trẻ có cả cha và mẹ nhận đứng tên trong giấy khai sinh thì bạn hoàn toàn có thể làm giấy khai sinh cho cháu đầy đủ cả tên cha mẹ, chỉ cần bạn có đủ căn cứ để chứng minh quan hệ cha con, cụ thể ở đây là giất xét nghiện ADN.

Trong trường hợp có tranh chấp về việc xác nhận quan hệ cha - con thì bạn có thể nộp đơn yêu cầu xác nhận quan hệ cha - con hoặc đơn khởi kiện về tranh chấp về xác định cha, mẹ, con theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, trong trường hợp này, bạn không thể tự mình đi đăng ký khai sinh cho con. Tuy nhiên, nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con, bạn có đến nhận con và được sự đồng ý của người mẹ thì con bạn vẫn có thể được đứng tên người cha trong giấy khai sinh của con và con cũng có thể được mang họ cha.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Rất cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Năm 2021, con ngoài giá thú có được mang họ của cha không ?

3. Có quyền cưới người khi đã làm đám cưới mà không kết hôn ?

Thưa luật sư: tôi và anh ấy quen nhau sau khi anh ấy đã chia tay với người vợ trước đã có 1 đứa con nhưng trước đó họ chưa đăng ký kết hôn, chỉ là sống với nhau có con. Nhưng hiện nay, người vợ trước liên tục làm phiền quấy rối tôi và đã dùng nhiều lời xúc phạm tôi. Doạ sẽ kiện chúng tôi, mặc dù anh ấy vẫn cấp dưỡng và có trách nhiệm với con của họ.
Vậy cho tôi hỏi theo luật tôi có phạm pháp không khi quen anh ấy? Và nếu anh ấy muốn kết hôn với tôi thì phải làm như thế nào? Chúng tôi có vi phạm luật nào không?
Mong sớm nhận được phản hồi từ quý luật sư, tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi:1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về đăng ký kết hôn như sau:

"Điều 9. Đăng ký kết hôn

1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

2. Vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì phải đăng ký kết hôn."

Như vậy, theo như thông tin bạn cung cấp, chồng bạn có tổ chức đám cưới với một người khác trước khi cưới bạn, anh ấy và người kia đã có con chung, tuy nhiên, hai người họ lại không đăng ký kết hôn. Theo đó, giữa chồng bạn và người kia mặc dù có tổ chức đám cưới nhưng vẫn không có giá trị pháp lý theo quy định của pháp luật vì không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Cũng theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn."

Như vậy, giữa chồng bạn và người kia chưa đáp ứng quy định là phải đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền, do đó, giữa họ không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Chính vì vậy, bạn và chồng bạn hiện nay vẫn có thể kết hôn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế đối với Việt Nam, có thể một số trường hợp không đăng ký kết hôn nhưng vẫn có thể được cơ quan nhà nước công nhận việc kết hôn khi họ chung sống với nhau như vợ chồng, cũng như thực hiện theo phong tục, tập quán của dân tộc họ, đồng thời họ cũng phải đáp ứng một số quy định của pháp luật mới được công nhận. Bạn không nói rõ là chồng bạn và người kia đã kết hôn từ khi nào? Sau bao lâu thì chia tay hay không sống chung với nhau? Và hai bạn có đang chung sống như vợ chồng với nhau hay không?

Chính vì vậy, trong trường hợp này, bạn muốn đăng ký kết hôn với chồng bạn thì bạn cần yêu cầu chồng bạn giải quyết được vấn đề vướng mắc với người anh ấy đã cưới trước đây, có thể là yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ hôn nhân giữa hai người họ, sau đó, chính thức đăng ký kết hôn với bạn, để tránh trường hợp, người kia xúc phạm hoặc gây khó khăn cho bạn.

Trong trường hợp, người phụ nữ kia luôn xúc phạm, chửi bới danh dự, nhân phẩm của bạn thì bạn có quyền nộp đơn Tố giác tội phạm người này với Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 hoặc về Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tùy từng hành vi của người này:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Đối với người đang thi hành công vụ;
đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
b) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 156. Tội vu khống
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
..."

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Thủ tục thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mới nhất

4. Tranh chấp tài sản khi nam nữ chung sống mà không đăng ký kết hôn ?

Thưa luật sư, Tôi và cô ấy chung sống với nhau được 7 năm và tạo lập được khá nhiều tài sản chung và riêng. Bây giờ chúng tôi quyết định không chung sống chung nữa. Vậy xin hỏi luật sư tư vấn tranh chấp tài sản khi nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, đối với tài sản được hình thành trong thời gian chung sống như vợ chồng:

Theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, trường hợp nam, nữ sống chung như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn được giải quyết như sau:

“Điều 14. Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

2. Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn.”

Trong trường hợp của anh, theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân của anh được xác lập từ thời điểm anh và vợ anh đi đăng ký kết hôn, đối với phần tài sản hình thành trong thời kỳ sống chung với nhau như vợ chồng được giải quyết theo quy định tại Điều 16 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

“Điều 16. Giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”

Như vậy, đối với tài sản hình thành trong thời kỳ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, nếu không có thỏa thuận với nhau, hoặc khi đăng ký kết hôn anh không nhập số tài sản đó vào tài sản chung, về nguyên tắc, tài sản riêng của ai sẽ thuộc về người đó.

Thứ hai, xác định tài sản chung của vợ chồng

Theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:

“Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.

Đối với trường hợp ngôi nhà anh xây trong thời kỳ hôn nhân xin được tư vấn cho anh trong hai trường hợp theo Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

-Trường hợp 1: Nếu mẹ anh cho anh tiền để xây nhà nhưng có thỏa thuận là cho riêng anh, xây trên mảnh đất đứng tên của anh (như trên) và vợ anh không có đóng góp gì vào việc xây dựng ngôi nhà này thì đây được coi là tài sản riêng của anh.

-Trường hợp 2: Nếu mẹ anh không có thỏa thuận là cho riêng anh, và vợ anh cũng có công sức đóng góp vào xây dựng ngôi nhà đó trên mảnh đất đứng tên anh thì giải quyết theo khoản 4 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình như sau:

“Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác”.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật hôn nhân và gia đình hãy gọi ngay: 1900.6162 (nhấn máy lẻ phím 1) để được luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến qua tổng đài điện thoại.

>> Xem thêm:  Sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 thì có quyền với tài sản chung không ?

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

5. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi không đăng ký kết hôn ?

Chị LTB, sinh năm 1989, quê xã Châu Khê - Con Cuông, lấy chồng nhưng không đăng ký kết hôn và chuyển khẩu về xã Lục Dạ - Con Cuông, đến nay con được 6 tuổi, do mâu thuẫn vợ chồng, chị B bỏ đi lấy người khác (ở xã Môn Sơn - Con Cuông) và nay đã có con được 3 tháng tuổi. Khẩu của chị bích vẫn ở trong sổ hộ khẩu của nhà chồng thứ nhất, nhưng ngày 6/11/2020 UBND xã Lục Dạ đã có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho chị B về đăng ký kết hôn với anh H ở xã Môn Sơn - Con Cuông.
Như vậy đúng hay sai ?
- L.T.T.D

Luật sư trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 điều 9 Luật cư trú năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2013:

Điều 9. Quyền của công dân về cư trú

1. Lựa chọn, quyết định nơi thường trú, tạm trú của mình phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Trường hợp chị B ở đây không có đăng ký kết hôn với chồng thứ nhất, trên giấy tờ pháp lý, hai người không phải vợ chồng, chị B ở đây chỉ là chuyển khẩu theo hình thức tự nguyện, trên thực tế, chị B vẫn là người độc thân, chị B chỉ là chuyển hộ khẩu thường trú, chung sống như vợ chồng chứ không có giấy đăng ký kết hôn.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 9, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về Đăng kí kết hôn:

Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.

Cho nên, khi chị B kết hôn với anh H sau này là hoàn toàn hợp pháp, đăng ký kết hôn hợp pháp và UBND xã xác nhận tình trạng hôn nhân của chị B với anh H như vậy là hoàn toàn hợp lý.

Chị B và anh chồng thứ nhất, chỉ có mối quan hệ liên quan đến con cái và có nghĩa vụ với đứa con 6 tuổi thôi.

Quy định về Giải quyết hậu quả của việc nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn:

Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết Điều 15 và Điều 16 của Luật này.

Điều 15: Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn

Quyền, nghĩa vụ giữa nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng và con được giải quyết theo quy định của Luật này về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con.

Điều 21. Thủ tục đăng ký thường trú

1. Người đăng ký thường trú nộp hồ sơ đăng ký thường trú tại cơ quan công an sau đây:

a) Đối với thành phố trực thuộc trung ương thì nộp hồ sơ tại Công an huyện, quận, thị xã;

b) Đối với tỉnh thì nộp hồ sơ tại Công an xã, thị trấn thuộc huyện, Công an thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

2. Hồ sơ đăng ký thường trú bao gồm:

a) Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; bản khai nhân khẩu;

b) Giấy chuyển hộ khẩu theo quy định tại Điều 28 của Luật này;

c) Giấy tờ và tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp. Đối với trường hợp chuyển đến thành phố trực thuộc trung ương phải có thêm tài liệu chứng minh thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Mức xử phạt hành vi đã kết hôn mà chung sống như vợ chồng với người khác ?