Thay vào đó thì bên phía Giám đốc Công ty CP chỉ làm có 1 tờ giấy với nội dung là Quyết định tuyển dụng tôi vào làm việc tại Công ty nhưng lại không thấy bên phía Công ty làm và ký Hợp đồng lao động với tôi. Xin hỏi Luật Sư như trường hợp trên thì có hợp pháp hay không? Tôi có quyền lợi gì hay không? khi có quyết định tuyển dụng nhưng lại không ký kết hợp đồng lao động với người lao động. Quyết định đó có giá trị gì về mặt pháp lý, kinh tế... hay không thưa Luật Sư? *TH2: * - Nếu tôi làm biên bản đề nghị xác nhận với nội dung là không còn làm việc tại Công ty CP thì xin hỏi Luật Sư là bên quý Công ty đó người ta có xác nhận cho hay không? Nếu trường hợp bên Công ty đó không có xác nhận cho thì tôi phải làm thế nào? Bởi: tôi và Công ty CP có chút xích mích trong công việc.
Tôi xin chân thành cảm ơn Luật Sư!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mụctư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.
Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi:1900.6162
Trả lời:
Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:
Cơ sở pháp lý:
Nội dung phân tích:
Tại Điều 29 bộ luật lao động năm 2012 quy định về kết thúc thời gian thủ việc như sau:
"Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc
1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.
2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận."
Theo đó, do trong thời gian thử việc hai bên đều không hủy bỏ hợp đồng thử việc mà khi kết thúc hợp đồng thử việc phía công ty lại có quyết định tuyển dụng bạn vào làm việc, thực chất là phía công ty đã nhận bạn vào làm việc theo hợp đồng lao động. Việc ký hợp đồng như vậy là hoàn toàn hợp pháp và có giá trị về mặt pháp lý, kinh tế như những hợp đồng lao động khác. Do đó kể từ khi công ty ra quyết định tuyển dụng đối với bạn thì bạn đã được công ty nhận vào làm việc cũng như việc hưởng lương và các chế độ theo hợp đồng lao động.
Đối với vấn đề xác nhận bạn không còn làm việc tại công ty:
Để xác nhận bạn không còn làm việc tại công ty thì bạn cần có quyết định cho thôi việc của công ty đối với bạn, quyết định cho thôi việc đó sẽ chứng minh bạn không còn làm việc tại công ty nữa. Bởi vậy đối với trường hợp này bạn cần chấm dứt hợp đồng lao động với công ty. Vì đã làm việc theo hợp đồng lao động thì việc chấm dứt hợp đồng cũng phải tuân theo các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động. Cụ thể các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp được quy định tại Điều 36, Điều 37 Bộ luật lao đông năm 2012. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 36, Điều 37 được coi là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và phải thực hiện nghĩa vụ theo Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:
"Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với công ty bạn cần chú ý đến thời hạn báo trước được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:
" 2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:
a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;
b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;
c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này."
Nếu bạn muốn chấm dứt hợp đồng lao động với công ty mà công ty không giải quyết cho bạn thôi việc thì trường hợp này bạn có thể yêu cầu hòa giải viên lao động hoặc Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 200 Bộ luật lao động năm 2012.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận Luật sư Lao động.