1. Ranh giới mong manh giữa nạn nhân và kẻ phạm tội
Thoạt đọc qua tiêu đề của nội dung bài viết chắc hẳn mọi người đều thắc tại sao đã là nạn nhân mà lại trở thành kẻ phạm tội (hay nói cách khác là tội phạm được). Việc thay đổi chủ thể từ phía nạn nhân (người bị hại) sang kẻ phạm tội là trường hợp hoàn toàn có thể xảy ra nếu chúng ta không nắm rõ được quy định của pháp luật, hành động theo cảm tính thì rất có thể dẫn đến rủi ro pháp lý không đáng có.
Kẻ phạm tội là những người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà theo pháp luật hình sự thì hành vi đó được quy định là tội danh. Tội phạm được phân biệt và xác định với các chủ thể khác qua dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải là bất cứ hành vi có dấu hiệu của tội phạm nào cũng được xác định và bị xử lý theo chế tài hình sự mà chỉ có những hành vi mang đủ yếu tố, dấu hiệu của tội phạm kèm theo tính chất nguy hiểm mà nó mang lại, nếu hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác.
Quay trở lại giải quyết tiêu đề của nội dung bài viết thì chúng ta đều thấy nạn nhân là những đối tượng bị người phạm tội tác động có thể xâm phạm các quyền cơ bản của nạn nhân như quyền được sống, quyền sở hữu tài sản, quyền về danh dự, nhân phẩm hay uy tín, ... Chẳng hạn như việc xâm phạm quyền được sống như theo Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội giết người thì nạn nhân ở đây được xác định là chủ thể bị người phạm tội xâm phạm quyền được sống (tính mạng) của họ.
Ranh giới mong manh giữa nạn nhân và kẻ phạm tội ở đây chính là muốn ám chỉ đến việc phòng của nạn nhân. Việc thực hiện phòng vệ chính là một biện pháp hữu hiệu giúp bảo vệ nạn nhân tránh được nguy hiểm hoặc giảm thiểu được thiệt hại do kẻ phạm tội gây ra. Việc phòng vệ của nạn nhân được quy định trong bộ luật hình sự rất rõ ràng gồm có phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng chính đáng. Ranh giới giữa việc phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng đôi khi rất mong manh. Mong manh ở đây không phải là nói về việc quy định của pháp luật không rõ ràng mà mong manh đấy đến từ chính hành động của nạn nhân. Họ lựa chọn ứng xử, hành động thế nào với việc quyền, lợi ích chính đáng của mình bị xâm phạm.
Chế tài xử lý của các loại phòng vệ này cũng khác nhau, một bên nếu là phòng vệ chính đáng được quy định không phải là tội phạm tức là không phải chịu truy cứu trách nhiệm hình sự nếu phòng vệ đó được coi là phòng vệ chính đáng. Và ngược lại là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật hình sự. Do đó phòng vệ của nạn nhân làm sao mà vẫn có thể bảo vệ mình và không bị rủi ro về pháp lý (truy cứu trách nhiệm hình sự) sẽ được chúng tôi trao đổi ở nội dung bên dưới.
Ngoài ra ranh giới mong manh này cũng được thể hiện qua những biểu hiện hành vi vi phạm khác mà khi đó nạn nhân đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ranh giới đang từ người bị hại trở thành tội phạm khi và chỉ khi hành vi của nạn nhân đáp ứng được các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự. Do đó các thông tin trong bài viết chỉ đi sâu vào một phần của ranh giới giữa nạn nhân và kẻ phạm tội chứ không bao hàm toàn bộ.
2. Làm sao để không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng?
Theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định như sau:
- Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Việc phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
- Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của bộ luật hình sự.
Trước đây tại Nghị quyết 02-HĐTP-TANDTC/QĐ ban hành ngày 05 tháng 01 năm 1986 (đã hết hiệu lực) Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật hình sự. Tại Nghị quyết này có hướng dẫn cụ thể một số tội danh và các điều kiện được coi là phòng vệ chính đáng. Có thể tóm gọn một số điều kiện để được coi là phòng vệ chính đáng như sau:
- Hành vi xâm hại của người phạm tội phải xâm phạm những lợi ích được pháp luật bảo vệ hoặc hành vi xâm hại có tính chất nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ: Xâm hại chế độ sở hữu của người phạm tội như trộm cắp tài sản.
- Hành vi xâm hại này phải đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại tức khắc nếu không có biện pháp để bảo vệ thì sẽ diễn ra.
- Việc phòng vệ chính đáng chỉ được với mục đích ngăn chặn, đẩy lùi hành vi xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng của mình, cơ quan, cá nhân, tổ chức khác. Việc lợi dụng quy định phòng vệ chính đáng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác đều không được coi là phòng vệ chính đáng.
- Mức độ của hành vi phòng vệ phải tương xứng với hành vi vi phạm tức là không có sự chênh lệch quá lớn giữa hành vi xâm phạm với hành vi phòng vệ. Tương xứng có thể là ngang bằng hoặc nhỏ hơn nhưng miễn là không được vượt quá.
Ví dụ: Chị A bị một tên trộm vào nhà trộm tiền, tên trộm khi lẻn vào nhà bị chị A phát hiện sẵn có con dao trên bàn chị A đe dọa tên trộm phải rời khỏi nhà. Vì quá lo sợ tên trộm đã tìm cách thoát khỏi nhà nhưng chị A vẫn dùng dao trong tay mình mà đâm tên trộm. Rõ ràng hành vi phòng vệ của chị A là quá mức cần thiết vì mục đích của tên trộm là trộm tiền nhưng không đạt được mục đích đã bị chị A phát hiện, tên trộm cũng bỏ ý định, không chống trả mà tìm cách tẩu thoát. Hành vi của chị A lại xâm phạm đến sức khỏe của tên trộm trong khi hậu quả mà tên trộm gây ra không tương xứng với hành vi của chị A.
Do vậy, việc để tránh vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì chúng ta phải đánh giá các mặt chủ thể, mục đích và hành vi phòng vệ của mình. Nếu trong giới hạn và là cần thiết thì sẽ không vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và ngược lại. Nhưng hiện nay nghị quyết này cũng hết hiệu lực và cũng chưa có văn bản thay thế cho nên việc áp dụng đánh giá phòng vệ chính đáng hay không phụ thuộc rất nhiều vào dấu hiệu, hành vi của nạn nhân.
Để hiểu rõ hơn nội dung này mời quý khách hàng tham khảo bài viết sau đây của chúng tôi: Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là gì? Điều kiện áp dụng
3. Một số vấn đề vướng mắc về ranh giới giữa nạn nhân và kẻ phạm tội
Cũng như thông tin trao đổi ở trên thì việc ranh giới giữa nạn nhân và tội phạm trong nhiều trường hợp rất mong manh. Quy định của pháp luật trong một số tội danh cũng chưa cụ thể hoặc văn bản hướng dẫn đã hết hiệu lực thi hành dẫn đến khó khăn cho công tác triển khai, đánh giá, xác định hành vi phạm tội với hành vi được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.
Việc quy định cụ thể hóa một số điều luật nếu nạn nhân không nắm rõ được phạm vi điều cấm của luật thì rất dễ chuyển thành tội phạm và ngược lại người có hành vi vi phạm ban đầu nhưng có sự khai báo, thành khẩn thuộc trường hợp được miễn truy cứu thì lại có thể chuyển từ người phạm tội sang nạn nhân.
Ví dụ điển hình là tội đưa hối lộ theo khoản 7 của Điều 364 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định việc người đưa hối lộ mặc dù dã đưa hối lộ nhưng nếu trước khi bị phát giác mà đi tự thú thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự, thậm chí được trả lại tài sản đưa hối lộ. Như vậy để xác định được ranh giới giữa nạn nhân và tội phạm cần căn cứ nhiều yếu tố chứ không chỉ xem xét ở một mặt phiến diện sẽ dẫn đến đánh giá không khách quan, thiếu trung thực dẫn đến sai xót, bỏ lọt tội phạm.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 19006162 hoặc địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để được giải đáp.