1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "An ninh kinh tế biển trên vùng biển, đảo Tây Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn" do TS. Phan Công Chính biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách An ninh kinh tế biển trên vùng biển, đảo Tây Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

An ninh kinh tế biển trên vùng biển, đảo Tây Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Tác giả: TS. Phan Công Chính

Nhà xuất bản Công an nhân dân

3. Tổng quan nội dung sách

Kinh tế biển là tổng thể các quan hệ kinh tế đặc thù gắn với không gian biển thông qua hoạt động của các chủ thể trực tiếp diễn ra trên biển và các ngành nghề ở đất liền có liên quan và dựa vào yếu tố biển. Phát triển kinh tế biển có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ về mặt kinh tế - xã hội mà còn đối với quốc phòng - an ninh của một quốc gia.

Việt Nam là một quốc gia biển, với đường bờ biển dài hơn 3260 km, trong đó vùng biển đảo Tây Nam nằm trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và Cà Mau là một trong những khu vực đóng vai trò quan trọng trong Chiến lược biển quốc gia và có vị trí đặc biệt về quốc phòng an ninh. Những năm qua, việc đầu tư phát triển kinh tế biển ở vùng này đã đạt được những kết quả to lớn. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì vùng biển đảo Tây Nam luôn tiềm ẩn những nhân tố phức tạp gây mất ổn định về an ninh, tác động tiêu cực đến việc thực hiện các kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế biển của nước ta. Với mục tiêu trang bị cho bạn đọc kiến thức về an ninh kinh tế biển, TS. Phan Công Chính biên soạn cuốn sách “An ninh kinh tế biển trên vùng biển, đảo Tây Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”

Mở đầu cuốn sách, tác giả hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế biển, an ninh kinh tế trên vùng biển, đảo Việt Nam; qua đó làm rõ khái niệm, các thành phần của vùng biển, đảo. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có lợi thế và tiềm năng lớn về tài nguyên biển, đảo như dầu khí, trữ lượng hải sản, năng lượng, du lịch biển và giao thông vận tải biển. Đây là những yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế biển - một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Qua việc phân tích thực trạng của một số lĩnh vực kinh tế biển quan trọng như kinh tế hàng hải; đánh bắt, nuôi trồng và chế biến hải sản; khai thác và chế biến dầu khí; du lịch biển; nghề làm muối,… tác giả đưa ra các chủ trương, biện pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển các lĩnh vực này ở Việt Nam trong thời gian tới; trong đó bảo vệ an ninh kinh tế biển được quan tâm đặc biệt. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản làm căn cứ pháp lý quan trọng để các lực lượng chức năng, trong đó nòng cốt là lực lượng vũ trang thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia nói chung và bảo vệ an ninh kinh tế trên vùng biển, đảo Tổ quốc nói riêng. Từ đó, góp phần ổn định an ninh chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phục vụ xây dựng và phát triển đất nước.

Trong thời gian qua, lực lượng chức năng đã chủ động tiến hành những biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý những vấn đề phức tạp đang diễn ra như hoạt động xâm phạm an ninh lãnh thổ, biên giới quốc gia; khai thác hải sản trái phép; tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến các dự án kinh tế biển,... và gặt hái được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, xuất phát từ vị trí địa lý, đặc điểm tình hình, lịch sử vùng biển nên vùng biển, đảo Tây Nam luôn tiềm ẩn nhiều vấn đề liên quan đến an ninh kinh tế biển, hoạt động này vẫn đang đối mặt với một số khó khăn. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn an ninh kinh tế biển trên vùng biển, đảo Tây Nam, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần bảo vệ an ninh kinh tế biển trên vùng biển này trong thời gian tới.

4. Đánh giá bạn đọc

Từ lâu, vùng biển, đảo Tây Nam đóng vai trò quan trọng trong Chiến lược biển quốc gia, có thể phát triển toàn diện các ngành kinh tế biển như: Kinh tế hàng hải, kinh tế thủy sản, du lịch biển, khai thác biển, kinh tế đảo, phát triển đô thị ven biển, phát triển năng lượng tái tạo, có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, là tuyến tiền tiêu bảo vệ biên giới phía Tây Nam của Tổ quốc, và cửa ngõ hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố thuận lợi phát triển kinh tế biển, vùng biển, đảo Tây Nam luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, nhiều vấn đề liên quan đến an ninh, trật tự vẫn tồn tại và tiềm ẩn nhiều diễn biến khó khăn, đe dọa đến sự phát triển kinh tế biển. Do đó, việc nghiên cứu và trang bị lý luận về vấn đề này là một trong những mục tiêu quan trọng của các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn nhằm bảo vệ an ninh kinh tế biển.

Cuốn sách góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về an ninh kinh tế biển vùng biển, đảo; đồng thời đánh giá thực tiễn an ninh kinh tế biển và bảo vệ an ninh kinh tế biển trên vùng biển, đảo Tây Nam, từ đó đưa ra hệ thống các giải pháp, kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện lý luận và nâng cao hiệu quả bảo vệ an ninh kinh tế biển trên vùng biển, đảo Tây Nam thời gian tới, góp phần bảo vệ an ninh biển, đảo Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho những bạn đọc quan tâm đến vấn đề biển đảo Tổ quốc nói chung và vùng biển, đảo Tây Nam nói riêng.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “An ninh kinh tế biển trên vùng biển, đảo Tây Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số giải pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo nước ta trong tình hình mới để bạn đọc tham khảo:

Một là, xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”.

Hai là, xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt. Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết hiện nay.

Trong đó:

- Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ. 

- Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. 

- Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên các vùng biển. 

- Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng lực lượng hoạt động trên biển. 

- Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc.

Ba là, kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Là thành viên của Liên hợp quốc, của UNCLOS cũng như tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòa bình, ổn định khu vực và quốc tế. Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các bên có liên quan. Tại các vùng biển không phải là tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của UNCLOS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng.

Bốn là, thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng. Đối ngoại quốc phòng là vấn đề quan trọng diễn ra chủ yếu trong thời bình và cả khi có tình huống chiến tranh, thực hiện tốt vấn đề này góp phần vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình, ổn định trên Biển Đông, vừa duy trì sự ổn định chính trị - xã hội trong nước và môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế. Thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, điều quan trọng trước hết là hợp tác chặt chẽ trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt là giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Năm là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thực hiện tốt nội dung này, các đơn vị Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng đóng quân ở địa phương ven biển và các đảo cần kết hợp chặt chẽ với địa phương và cơ quan Tuyên giáo xây dựng kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng báo cáo viên, biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân sinh sống ở ven biển, trên đảo, ngư dân làm ăn trên biển, kiều bào ta ở nước ngoài.