1. Giới thiệu tác giả
Cuốn sách "Điều lệ đảng công tác xây dựng quản lý, chỉnh đốn đảng - Những việc cần làm tại các cơ quan, đoàn thể" do tác giả Quý Long hệ thống.
2. Giới thiệu hình ảnh sách

Điều lệ đảng công tác xây dựng quản lý, chỉnh đốn đảng - Những việc cần làm tại các cơ quan, đoàn thể
Tác giả: Quý Long hệ thống
Nhà xuất bản Thế giới
3. Tổng quan nội dung sách
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, Đảng ta luôn xác định công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt và nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế. Xây dựng Đảng luôn luôn là một nhiệm vụ quan trọng để bảo đảm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh đủ sức lãnh đạo toàn xã hội. Mục tiêu xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức thực chất là nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Vì vậy, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành một số văn bản cụ thể như sau:
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 về việc tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ;
- Quyết định số 124-QĐ/TW ngày 02-02-2018 Về giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên;
- Quyết định số 132-QĐ/TW ngày 08-03-2018 Về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị;
- Chỉ thị số 21-CT/TWngày 20-01-2018 Về tiếp tục đẩy mạnh công tác phụ nữ trong tình hình mới;
- Quyết định số 127-QĐ/TW ngày 01-03-2018 Chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã, phường, thị trấn;
- Hướng dẫn số 04-HD/UBKTTW ngày 22-03-2018 Thực hiện một số điều trong Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm;
- Quyết định số 684-QĐ/UBKTTW ngày 03-01-2018 Quy trình tiến hành công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật đảng;
- Quyết định số 109-QĐ/TW ngày 03-01-2018 về công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên;
Để giúp cho các tổ chức cơ sở Đảng và cán bộ Đảng viên kịp thời nắm bắt các văn kiện mới nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng liên quan đến vấn đề trên. Trung tâm Giới thiệu Sách phối hợp với Nhà xuất bản Thế Giới xuất bản cuốn sách: "Điều lệ đảng công tác xây dựng quản lý, chỉnh đốn đảng - Những việc cần làm tại các cơ quan, đoàn thể”.
Nội dung của cuốn sách bao gồm những phần chính sau:
Phần 1. Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam và văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành
Phần 2. Hướng dẫn kiểm điểm, đánh giá, xếp loại đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp
Phần 3. Hướng dẫn triển khai công tác trọng tâm của Đảng trong giai đoạn hiện nay
Phần 4. Đổi mới, hoàn thiện một số chủ trương, chính sách của đảng trong tình hình mới
Phần 5. Quy định về tổ chức, hoạt động và mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở
Phần 6. Chính sách quản lý xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh
Phần 7. Quy trình công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên
4. Đánh giá bạn đọc
Tác giả đã hệ thống trong cuốn sách "Điều lệ đảng công tác xây dựng quản lý, chỉnh đốn đảng - Những việc cần làm tại các cơ quan, đoàn thể" nhiều văn bản hướng dẫn mới của đảng về: Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam và văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành; kiểm điểm, đánh giá, xếp loại đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; triển khai công tác trọng tâm của Đảng trong giai đoạn hiện nay; đổi mới, hoàn thiện một số chủ trương, chính sách của đảng trong tình hình mới; tổ chức, hoạt động và mối quan hệ công tác của đảng bộ, chi bộ cơ sở; chính sách quản lý xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, vững mạnh; quy trình công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Cuốn sách là tài liệu thiết thực giúp cho các cấp ủy, các ban của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, chi bộ, cán bộ, đảng viên, cán bộ kiểm tra nghiên cứu, nắm vững, vận dụng thực hiện tốt công tác theo chức trách, nhiệm vụ được giao.
5. Kết luận
Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Điều lệ đảng công tác xây dựng quản lý, chỉnh đốn đảng - Những việc cần làm tại các cơ quan, đoàn thể".
Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây một số quy định tại Hướng dẫn số 04-HD/UBKTTW ngày 22-03-2018 Thực hiện một số điều trong Quy định số 102-QĐ/TW, ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm để bạn đọc tham khảo:
Điều 1. Phạm vi, đối tượng
* Khoản 2, Điều 1
“Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm vẫn phải xem xét, kết luận; nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải thi hành kỷ luật theo đúng quy định của Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và những nội dung nêu trong Quy định này".
- Đảng viên sau khi chuyển công tác, nghỉ việc hoặc nghỉ hưu và đã chuyển sinh hoạt đảng mới phát hiện có vi phạm ở nơi sinh hoạt đảng trước đây mà chưa được xem xét, xử lý thì tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của các tổ chức đảng đó xem xét, xử lý theo quy định.
- Khi đang xem xét, xử lý đảng viên vi phạm mà tổ chức đảng nơi đảng viên vi phạm đang sinh hoạt bị giải thể, sáp nhập, chia tách hoặc kết thúc hoạt động thì tổ chức đảng có thẩm quyền vẫn tiếp tục xem xét, xử lý hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đó xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên theo quy định.
Điều 2. Nguyên tắc xử lý kỷ luật
* Khoản 3, Điều 2
“Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải căn cứ vào nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ, thái độ tiếp thu phê bình và sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra, mục tiêu, yêu cầu của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng”.
- Khi xem xét, xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, phải làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, động cơ, nguyên nhân của vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và căn cứ vào thái độ tự giác, tinh thần quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, vi phạm và khắc phục hậu quả đã gây ra, chứng cứ đến đâu kết luận đến đấy, không suy diễn. Đồng thời, phải xét hoàn cảnh lịch sử cụ thể, khách quan, toàn diện nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.
- Đảng viên vi phạm bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có chức vụ) ở Khoản 2 của các điều từ Điều 7 đến Điều 34 thì tổ chức đảng có thẩm quyền căn cứ vào quy định nêu trên để xem xét, quyết định cụ thể: Cảnh cáo hoặc cách chức một, một số hoặc tất cả các chức vụ trong Đảng đối với đảng viên đó.
- Đảng viên vi phạm bị kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo, nếu xét thấy không còn đủ uy tín thì tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định cho miễn nhiệm hoặc đề nghị cho thôi giữ chức vụ đó.
Điều 3. Thời hiệu xử lý kỷ luật
* Khoản 1, Điều 3
“Thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng là thời hạn được quy định trong Quy định này mà khi hết thời hạn đó thì đảng viên có hành vi vi phạm không bị xử lý kỷ luật”.
Đảng viên vi phạm ở bất cứ thời điểm nào đều phải được tổ chức đảng có thẩm quyền kiểm tra, làm rõ, kết luận và biểu quyết hình thức kỷ luật cụ thể. Sau đó căn cứ vào kết quả biểu quyết và đối chiếu với quy định về thời hiệu xử lý kỷ luật để quyết định thi hành hoặc không thi hành kỷ luật đối với đảng viên vi phạm.
Ví dụ: Đảng viên A có vi phạm cách thời điểm xem xét kỷ luật là trên 10 năm. Tổ chức đảng có thẩm quyền sau khi xem xét nội dung, tính chất, mức độ vi phạm, biểu quyết quyết định kỷ luật với kết quả là cảnh cáo. Đối chiếu với quy định về thời hiệu kỷ luật thì tại thời điểm quyết định kỷ luật đã hết thời hiệu xử lý kỷ luật nên đảng viên đó không bị thi hành kỷ luật về Đảng. Trường hợp kết quả biểu quyết ở hình thức khai trừ, đối chiếu với quy định về thời hiệu, đảng viên đó bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ.
* Điểm b, Khoản 1, Điều 3
“Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm. Nếu trong thời hạn xử lý kỷ luật được quy định tại Điểm a Khoản này, đảng viên có hành vi vi phạm mới thì thời hiệu xử lý kỷ luật đối với vi phạm cũ được tính lại kể từ thời điểm thực hiện hành vi vi phạm mới”.
Ví dụ: Đảng viên A có vi phạm vào ngày 02/5/2015 và còn trong thời hiệu xử lý kỷ luật, đến ngày 08/9/2017 lại có vi phạm mới thì thời hiệu đối với vi phạm cũ được tính lại từ ngày 08/9/2017. Tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét từng nội dung vi phạm và quyết định chung bằng một hình thức kỷ luật.
- Thời hiệu xử lý kỷ luật được tính từ thời điểm có hành vi vi phạm đến thời điểm tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định kiểm tra, xem xét kỷ luật đảng viên; trường hợp vi phạm xảy ra liên tục kéo dài thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
Ví dụ: Đảng viên A có hành vi vi phạm liên tục kéo dài trong thời gian 3 năm (từ ngày 08/3/2013 đến ngày 08/3/2016), đến nay mới bị phát hiện hành vi vi phạm trong thời gian đó, thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi phạm ngày 08/3/2016 đến khi tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định kiểm tra, xem xét kỷ luật.
- Không tính lại thời hiệu đối với đảng viên đã bị thi hành kỷ luật nhưng sau đó, tổ chức đảng cấp trên quyết định lại (chuẩn y, tăng hoặc giảm) hình thức kỷ luật đối với đảng viên đó.
Ví dụ: Đảng viên A bị kỷ luật khiển trách, đảng viên đó khiếu nại lên các tổ chức đảng cấp trên; tổ chức đảng giải quyết khiếu nại cuối cùng quyết định chuẩn y hình thức kỷ luật khiển trách đối với đảng viên đó (thời gian từ khi có hành vi vi phạm đến khi có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng là trên 5 năm), vì không tính lại thời hiệu nên đảng viên đó vẫn phải chấp hành quyết định kỷ luật của tổ chức đảng cấp trên.
Điều 5. Các trường hợp chưa xem xét, xử lý kỷ luật và không xử lý kỷ luật
* Khoản 1, Điều 5
“Đảng viên vi phạm đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản, đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức, bị ốm nặng đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền theo quy định của pháp luật (từ cấp huyện trở lên) xác nhận thì chưa xem xét, xử lý kỷ luật”.
- “Bệnh hiểm nghèo” là bệnh nguy hiểm đến tính mạng của người bị mắc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
- Thời gian chưa xem xét, xử lý kỷ luật nêu trên không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật về Đảng.
Ví dụ: Đảng viên A vi phạm cách đây 4 năm, khi tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kỷ luật về Đảng thì đồng chí bị ốm phải điều trị nội trú ở bệnh viện thì thời gian điều trị này không tính vào thời hiệu xử lý kỷ luật.
* Khoản 2, Điều 5
“Đảng viên vi phạm đã qua đời, tổ chức đảng xem xét, kết luận, không xử lý kỷ luật, trừ trường hợp đảng viên đó vi phạm kỷ luật đặc biệt nghiêm trọng”.
Đảng viên qua đời, sau đó mới phát hiện có vi phạm thì không tiến hành kiểm tra. Khi đang kiểm tra hoặc xem xét, xử lý kỷ luật mà đảng viên vi phạm qua đời thì chỉ kết luận, không thi hành kỷ luật. Trường hợp đảng viên vi phạm đặc biệt nghiêm trọng qua đời thì vẫn kiểm tra, kết luận và xử lý kỷ luật.