1. Giới thiệu tác giả TS. Võ Trung Tín

Sách "Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam" do TS. Võ Trung Tín biên soạn.

 

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam do TS. Võ Trung Tín biên soạn.

Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam

Tác giả: TS. Võ Trung Tín

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

 

3. Tổng quan nội dung sách

Việt Nam đang nỗ lực phát triển theo hướng đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với các mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế – xã hội – môi trường. Khi vấn đề ô nhiễm môi trường trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với sự phát triển bền vững thì nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” trở nên phổ biến và được sử dụng để giải quyết các vấn đề về môi trường. Cuốn sách “Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam” của TS. Võ Trung Tín trình bày các vấn đề lý luận, thực tiễn thực hiện nguyên tắc, đồng thời đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật môi trường và cơ chế triển khai thực hiện có hiệu quả nguyên tắc này.

Cuốn sách được biên soạn gồm 3 phần chính:

Chương I: Những vấn đề lý luận về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền;

Chương II: Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật Việt Nam;

Chương III: Nhu cầu, định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật môi trường Việt Nam nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền.

Có thể thấy, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền được ghi nhận rõ nét nhất trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, theo đó “Tổ chức, cá nhân gây tổn hại môi trường do hoạt động của mình phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Sau đó, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2018 tiếp tục ghi nhận bằng các quy định tương tự. Nội dung cơ bản của nguyên tắc được thể hiện ngay trong tên gọi, đó là các chủ thể gây ra ô nhiễm môi trường phải chịu chi phí cho việc khắc phục, cải thiện môi trường bị ô nhiễm. Theo tác giả, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền phải bảo đảm sự công bằng trong việc khai thác, sử dụng và tạo nguồn kinh phí cho hoạt động bảo vệ môi trường, cụ thể, số tiền trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất, mức độ gây tác động xấu đến môi trường và phải tác động đến lợi ích, hành vi của chủ thể. Tác giả chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền với các nguyên tắc khác của Luật Môi trường; cần xem xét khi áp dụng nguyên tắc này, nếu không, có thể dẫn đến những hệ lụy và bất ổn về môi trường.

Thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền thông qua pháp luật về thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Bên cạnh việc áp dụng các hình thức trả tiền cho hành vi gây ô nhiễm, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền cần phải có sự bảo đảm thực hiện thông qua những cách thức khác. Trong trường hợp người gây ô nhiễm nhận thức được hành vi của họ cần phải trả tiền và thực hiện nghiêm túc thì công tác tuyên truyền, giáo dục lúc này đóng vai trò quan trọng. Trong trường hợp họ không tuân thủ, hoặc tuân thủ không triệt để nghĩa vụ của mình thì việc áp dụng các chế tài hành chính, hình sự là cần thiết.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người là nguồn gốc, nguồn lực và mục tiêu của quá trình xây dựng Nhà nước, trong đó đề cập đến quyền con người được sống trong một môi trường trong lành, không bị ô nhiễm. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, khó có thể bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả nếu không có nguồn tài chính bảo đảm. Vì thế, phải tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và vững chắc nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác sử dụng các nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường, đồng thời xây dựng và áp dụng các biện pháp đồng bộ nhằm bảo đảm hiệu lực và hiệu quả thi hành pháp luật về môi trường. Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về môi trường phải tuân thủ các quy định mang tính nguyên tắc của luật môi trường, kế thừa quy định mang tính ưu việt đã có của Việt Nam cũng như tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Bên cạnh việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về thuế bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, bồi thường thiệt hại do ô nhiễm môi trường, tác giả đưa ra một số giải pháp khác như: sửa đổi, bổ sung các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường; quy định cấu thành tội phạm môi trường là cấu thành hình thức đối với tất cả các tội phạm về môi trường, ….

 

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách gồm 3 chương, trình bày các vấn đề lý luận về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, các quy định pháp luật thể hiện và thực hiện nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật Việt Nam, từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật môi trường và cơ chế triển khai thực hiện có hiệu quả nguyên tắc này ở Việt Nam. Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của đông đảo bạn đọc cũng như những nhà nghiên cứu về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền dưới khía cạnh pháp lý.

 

Kết luận: Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền theo pháp luật môi trường Việt Nam".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung phân tích khái niệm chung về Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền để bạn đọc tham khảo:

Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền (Polluter-Pays Principle: PPP) có xuất phát điểm là một nguyên tắc kinh tế về phân bổ chi phí, được đề xuất nhằm “nội hóa” các khoản chi phí thiệt hại môi trường, vốn thường bị người sản xuất gây ô nhiễm môi trường bỏ qua và không được phản ánh trong giá cả hàng hóa liên quan. Quá trình “nội hóa” chi phí theo nguyên tắc PPP có thể được hiểu là người sản xuất gây ô nhiễm buộc phải chi trả cho các chi phí môi trường phát sinh do hành vi gây ô nhiễm của họ, từ đó những khoản chi phí này được phản ánh trong số sách kế toán và đưa vào giá thị trường của các giao dịch kinh tế liên quan. Việc phải chi trả cho vấn đề ô nhiễm môi trường sẽ tạo ra động lực kinh tế cho người gây ô nhiễm điều chỉnh hành vi gây ô nhiễm của họ, nhờ đó giảm thiểu vấn đề ô nhiễm môi trường.

Từ một nguyên tắc kinh tế, nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền đã dần được công nhận rộng rãi trên thế giới như là một nguyên tắc pháp lý cơ bản trong hệ thống pháp luật về môi trường. Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic Co-operation and Development: OECD) đã đưa ra đề xuất áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền từ những năm đầu thập kỷ 1970s. Các nỗ lực liên tục của Tổ chức OECD trong khoảng thời gian hai thập kỷ đã đưa nguyên tắc PPP trở thành một nguyên tắc pháp lý. Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền đã được áp dụng chính thức tại Châu Âu trong Đạo luật về Một Châu Âu đồng nhất năm 1987; và ở phạm vi quốc tế nguyên tắc này đã được ghi nhận trong Nguyên tắc 16 của Tuyên bố chung Rio của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển năm 1992 (Luppi và cộng sự, 2012). Hiệp định thư Kyoto về ứng phó với biến đổi khí hậu năm 1992 cũng là một ví dụ về các quy định quốc tế đã áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền. Trong khoảng 25 năm kể từ Tuyên bố chung Rio 1992, nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền đã được áp dụng rộng rãi trong hệ thống pháp luật môi trường của nhiều quốc gia trên thế giới (Zahar, 2018).

Nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền, như hàm ý của tên gọi, đòi hỏi người gây ô nhiễm phải chi trả các chi phí phát sinh do vấn đề ô nhiễm môi trường mà họ gây ra. Khi là một nguyên tắc pháp lý và được đưa vào các quy định pháp luật, nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền sẽ được đảm bảo thực thi bởi hệ thống bộ máy thực thi luật pháp, nhờ đó người gây ô nhiễm sẽ buộc phải chi trả các khoản chi phí phát sinh do ô nhiễm. Các chi phí phát sinh do ô nhiễm có hàm ý rộng, và trong thực tế cách diễn giải về các khoản chi phí mà người gây ô nhiễm phải trả cũng rất đa dạng.

Để giúp trả lời người gây ô nhiễm chi trả các khoản chi phí nào, Zahar (2018) đã tổng kết khái quát hai cách hiểu chính về các khoản chi phí phát sinh do ô nhiễm mà người gây ô nhiễm phải trả. Theo nghĩa hẹp, người gây ô nhiễm phải trả: (1) chi phí của các biện pháp ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm do họ thực hiện nhằm tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường; (2) chi phí thiệt hại do vấn đề ô nhiễm môi trường gây ra, bao gồm cả những thiệt hại trong trường hợp tai nạn hay sự cố môi trường. Theo nghĩa rộng thì ngoài 2 khoản chi phí trên, người gây ô nhiễm còn phải trả các chi phí của cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo thực thi nguyên tắc PPP này, ví dụ như chi phí hành chính để thực thi các quy định quản lý môi trường, chi phí xác định mức thiệt hại dô ô nhiễm môi trường, chi phí xác định chủ thể gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm cho thiệt hại môi trường.

Trong những khuyến nghị đầu tiên về nguyên tắc người gây ô nhiễm trả tiền, Tổ chức OECD đã đưa ra các khoản chi phí người gây ô nhiễm phải trả theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các khoản chi phí phát sinh do vấn đề ô nhiễm (OECD, 1992). Lúc này, nguyên tắc PPP có thể được hiểu như là một “nguyên tắc không trợ cấp cho ô nhiễm môi trường”, có nghĩa là bất kỳ các khoản chi phí nào phát sinh do ô nhiễm mà được tài trợ chi trả từ nguồn thu ngân sách nhà nước đều được coi như là không phù hợp với nguyên tắc PPP. Nói cách khác, người gây ô nhiễm phải chịu trách nhiệm chi trả tất cả các chi phí phát sinh do vấn đề ô nhiễm.