1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ sáu, có sửa chữa, bổ sung), do tập thể tác giả thuộc Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm, biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ tư, có sửa chữa, bổ sung)

Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ tư, có sửa chữa, bổ sung)

Tập thể tác giả thuộc Bảo tàng Hồ Chí Minh sưu tầm, biên soạn

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật

3. Tổng quan nội dung sách

Chủ tịch Hồ Chí Minh Lãnh tụ thiên tài, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Người đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân; phấn đấu, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng nhân loại, đấu tranh cho hòa bình thế giới và tình hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc. Cả cuộc đời và sự nghiệp của Người là tấm gương sáng ngời cho toàn Đảng, toàn dân ta nguyện phấn đấu suốt đời học tập và noi theo.

Nhằm tiếp tục góp phần nghiên cứu thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh, cung cấp thêm tư liệu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh , Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tái bản cuốn sách Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ sáu, có sửa chữa, bổ sung).

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc các mục chính như sau:

1. Những tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh

2. Những tên gọi bí danh, bút danh cần nghiên cứu thêm

3. Tổng hợp tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng từ năm 1890 đến năm 1969

4. Danh mục sách và tài liệu tham khảo

So với những bài viết trước đây, trong cuốn sách này ngoài việc xác minh, hệ thống lại đàn bộ các tên gọi, bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các tác giả còn giới thiệu thêm gần 30 tên gọi và bút danh của Người mới sưu tầm được, đồng thời giới thiệu một số trang bản thảo, những tấm ảnh, những tấm thẻ, v.v. đánh dấu mỗi chặng đường hoạt rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hơn 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Người qua bốn châu lục, ba đại dương, đặt chân lên gần 30 nước, làm hàng chục nghề khác nhau. Trong điều kiện hoạt động cách mạng bí mật, Người phải thay đổi họ tên rất nhiều lần. Mọi khó khăn, gian khổ, nguy hiểm không làm Người chùn bước. Bất kỳ ở đâu, trong hoàn cảnh nào, Người cũng chỉ có một mục đích như chính Người đã từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó”.

Từ Nguyễn Sinh Cung, đến tên gọi Văn Ba khi xuất dương tìm đường cứu nước, rồi trở thành Nguyễn Ái Quốc Hồ Chí Minh, Người đã dùng nhiều tên gọi, bí danh, bút danh khác nhau. Đây là một bằng chứng sinh động nhất về cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất.

Mỗi tên gọi, mỗi bí danh Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng phần lớn đều gắn với những sự kiện lịch sử, những bước ngoặt quan trọng trong hành trình cứu nước của Người, trong từng chặng đường của cách mạng Việt Nam và đều mang những ý nghĩa nhất định. Nhiều bài báo, tác phẩm Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sử dụng bút danh là những tác phẩm lý luận quan trọng, là cẩm nang chỉ đường cho Đảng và nhân dân ta trong mỗi bước đường cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam và là một nhà báo có một khối lượng bài viết lớn: khoảng 2.000 bài.

Trên cơ sở tài liệu lưu giữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh qua một số sách, báo đã công bố, trong cuốn sách này, bước đầu chúng tôi tập hợp và giới thiệu với bạn đọc 174 tên gọi, bí danh và bút danh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng. Con số này chắc hẳn cũng chưa dừng ở đây, vì chúng ta còn tiếp tục nghiên cứu, xác minh, sưu tầm.

Cuốn sách giới thiệu với bạn đọc những tên chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tên được người khác gọi, những bí danh trong thời kỳ hoạt động bí mật và những bút danh Người viết báo chí theo thứ tự thời gian. 

Một số tên gọi: Ông Ké, Ông Cụ, Bác, v.v., có thể coi là tên gọi được không hay chỉ là cách xưng hô trong giao tiếp. Với suy nghĩ đây là trường hợp đặc biệt, mang nhiều ý nghĩa, các tác giả cũng đưa vào cuốn sách này. Bởi hiếm có vị lãnh tụ nào trên thế giới được nhân dân cả nước yêu mến đặc biệt như Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ già đến trẻ, từ thế hệ này qua thế hệ khác đều kính yêu gọi Người với hai tiếng giản dị, gần gũi, nhưng rất đỗi thiêng liêng: Bác Hồ.

Các tác giả tạm quy ước những chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh dưới mỗi bài viết, mỗi bức điện, bức thư, v.v. đều đưa vào danh mục tên gọi, bí danh, bút danh, trong đó có cả những chữ ký như chữ ký Anh trong thư gửi đồng chí Nguyễn Khánh Toàn tháng 8-1947; chữ ký B. trong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng chí Lê Duẩn tháng 3-1968, v.v..

Những bút danh cùng một nhóm, xuất phát từ tên gọi Nguyễn Ái Quốc như: N.A.Q; Ng.A.Q; Ái Quốc, v.v., các tác giả đưa trung thành như Người ghi trong mỗi bài viết, mỗi bức thư.

Những bí danh xuất hiện trong các thời kỳ khác nhau, theo các hồi ký kể lại, khi đưa vào sách cũng chỉ rõ nguồn xuất xứ để bạn đọc thấy được mức độ tin cậy của nguồn tài liệu như bí danh: Tống Thiệu Tổ, New Man, v.v..

Một số tên gọi Nguyễn Ái Quốc ghi là địa chỉ để liên lạc, nhận thư, báo như: Ông Lu, Tiết Nguyệt Lâm, Víchto Lơbông, v.v., các tác giả cũng ghi trung thành như tài liệu để bạn đọc tiện sử dụng.

Một số tên gọi, bút danh của Bác được các bài viết khác đề cập đến, song do chưa có tài liệu xác minh nên các tác giả đưa vào phần cuối của sách để nghiên cứu, tìm hiểu thêm.

4. Đánh giá bạn đọc

Với cách trình bày có hệ thống và dễ hiểu, từng bước làm chính xác thêm các cứ liệu lịch sử, các tác giả đã cung cấp cho bạn đọc những tên gọi, bí danh, bút danh mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng trong quá trình hoạt động cách mạng của Người.

Cuốn sách sẽ là tài liệu góp phần giúp các nhà nghiên cứu và bạn đọc tìm hiểu, khám phá về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cuốn sách được bạn đọc dành những lời đánh giá tích cực như: "Sách nhỏ gọn, có bảng danh sách phía sau, dễ tra cứu các tên, bí danh, năm, địa điểm mà Bác sử dụng"  hay "Quyển sách khổ bé tí xinh xinh nhưng viết khá đầy đủ về các bút danh của chủ tịch Hồ Chí Minh".

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Những tên gọi bí danh, bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh".

Luật Minh Khuê trích dẫn dưới đây một số tên gọi, bí danh, bút danh của Bác được trình bày trong cuốn sách để bạn đoc tham khảo:

1. Nguyễn Sinh Cung -  1890

Nguyễn Sinh Cung là tên lúc thiếu thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890 tại quê mẹ là làng Hoàng Trù (thường gọi là làng Chùa), xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

2. Nguyễn Sinh Côn

Theo một số hồi ký của các bạn học cùng trường Quốc học Huế với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nguyễn Sinh Cung còn thường được gọi là Nguyễn Sinh Côn . Trong một bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1954, Người cũng ghi tên còn nhỏ của mình là Nguyễn Sinh Côn 1 .

3. Nguyễn Tất Thành – 1901

Tháng 5-1901, ông Nguyễn Sinh Sắc đậu phó bảng khoa thi Hội năm Tân Sửu. Khoảng tháng 9-1901, ông chuyển về sống ở quê nội xã Kim Liên. Theo tục lệ, ông Nguyễn Sinh Sắc được làng Kim Liên đón về và được làng cấp đất công, xuất quỹ làm cho một ngôi nhà. Nhân dịp này ông Nguyễn Sinh Sắc làm "lễ vào làng" cho hai con trai với tên mới: Nguyễn Tất Đạt (Sinh Khiêm), Nguyễn Tất Thành (Sinh Cung). Thành Đạt là mong muốn của người cha đặt hy vọng vào hai con.

4. Nguyễn Văn Thành

5. Nguyễn Bé Con

Trong tài liệu đề ngày 6-2-1920 của Tổng đốc Vinh cung cấp về Nguyễn Sinh Sắc và 2 con trai, ghi lời khai của lý trưởng, hào lý làng Kim Liên, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn: Con trai thứ của Nguyễn Sinh Sắc là Nguyễn Bé Con.

Tài liệu mật thám Pháp theo dõi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, bản ghi số 1116, năm 1931 một số nét về gia đình, quê quán và nhận dạng Nguyễn Ái Quốc: Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Văn Thành tức Nguyễn Sinh Côn hay Nguyễn Bé Con tức Lý Thụy... đã cư trú nhiều năm tại Mỹ, Anh, Pháp và nước Nga.

6. Văn Ba – 1911

Với hoài bão, quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành xin làm việc ở tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin (Amial Latouche Tréville), một tàu lớn vừa chở hàng, vừa chở khách của hãng Năm Sao đang chuẩn bị rời cảng Sài Gòn  đi Mácxây (Marseill), Pháp.

Ngày 3-6-1911, Nguyễn Tất Thành bắt đầu làm việc trên tàu.

Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi, bắt đầu cuộc hành trình cứu nước. Trong sổ lương của tàu tên anh là Văn Ba.

Những người bạn cùng làm việc với Văn Ba ở tàu Đô đốc Latusơ Tơrêvin đều thân mật gọi anh là Ba, anh Ba. Anh Ba sống giản dị, gần gũi với mọi người. Những việc làm của anh đã để lại trong họ ấn tượng, tình cảm tốt đẹp.

Hơn mười năm sau, khi trả lời nhà báo Nga Ôxíp Manđenxtam, Nguyễn Ái Quốc nói về mục đích chuyến đi của mình năm ấy: “Vào trạc tuổi mười ba, lần đầu tiên tôi được nghe những từ Pháp Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cũng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy".

Một lần khác, Người trả lời nhà văn Mỹ Anna Luy Xtơrông: "Nhân dân Việt Nam trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai là người sẽ giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Nhật, người khác nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ.

Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.

7. Pôn Tất Thành (Paul Tat Thanh) – 1912

Giữa tháng 12-1912, Nguyễn Tất Thành đến nước Mỹ. Ngày 15-12-1912, từ Niu Oóc (New York), Nguyễn Tất Thành gửi thư cho Khâm sứ Trung Kỳ nhờ tìm địa chỉ của thân phụ mình là Nguyễn Sinh Huy. Thư ký tên Pôn Tất Thành.

8. Tất Thành – 1914

Từ nước Anh, Nguyễn Tất Thành gửi thư cho cụ Phan Chu Trinh ở Pháp thông báo tình hình học tập, sinh hoạt của bản thân. Trong một thư khác anh nhận định, bàn luận tình hình thời cuộc. Thư ký tên Tất Thành. Hiện sưu tầm được 4 thư ký tên Tất Thành gửi cho cụ Phan Chu Trinh, trong đó có 3 thư Người ký C.Đ Tất Thành, 1 thư ký Cuồng Điệt 4 Tất Thành.

9. Pôn Thành (Paul Thanh) – 1915

Ngày 16-4-1915, Nguyễn Tất Thành viết thư cho Toàn quyền Đông Dương qua lãnh sự Anh tại Sài Gòn nhờ tìm địa chỉ của cha mình. Thư ký tên Pôn Thành.

10. Nguyễn Ái Quốc – 1919

Nguyễn Ái Quốc - cái tên bắt đầu một chặng đường mới trong hành trình cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp và bắt đầu hoạt động chính trị dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc. Song tên mới Nguyễn Ái Quốc thực sự được nhiều người biết đến khi Người thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp ngày 18-6-1919 gửi lên Hội nghị Vécxây bản yêu sách 8 điểm của nhân dân Việt Nam đòi chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Từ đây bắt đầu một thời kỳ hoạt động sôi nổi của Nguyễn Ái Quốc - linh hồn của phong trào những người Việt Nam yêu nước tại Pháp.

Những năm Nguyễn Ái Quốc hoạt động ở Pháp, chính quyền thực dân coi Nguyễn Ái Quốc là một nhân vật nguy hiểm. Chúng huy động cả một lực lượng mật thám thường xuyên theo dõi, thu thập tài liệu về Người. Đã có hàng vạn trang tài liệu liên quan đến hoạt động của Nguyễn Ái Quốc. Song không một trở lực nào có thể ngăn cản được ý chí và quyết tâm cứu nước của Người.

Với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người viết hàng trăm bài báo phục vụ sự nghiệp tuyên truyền cách mạng. Trong khoảng thời gian từ năm 1919 đến năm 1926, bút danh Nguyễn Ái Quốc được sử dụng nhiều nhất. Với bút danh Nguyễn Ái Quốc, Người viết các tác phẩm quan trọng đối với cách mạng Việt Nam: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927). Tác phẩm đầu là bản cáo trạng đối với chủ nghĩa đế quốc Pháp nói riêng và chủ nghĩa đế quốc nói chung để thức tỉnh đồng bào Việt Nam và các dân tộc bị áp bức; tác phẩm sau là định hướng cho hành động cách mạng.

Sau lần bị bắt tại Hương Cảng năm 1931, mật thám Pháp tưởng Nguyễn Ái Quốc đã bị chết trong nhà tù vì những tin đồn do chính luật sư Lôdơbi tung ra để bảo vệ Người thêm phần an toàn khi trốn tránh. Năm 1933, Nguyễn Ái Quốc chắp nối liên lạc được với các tổ chức cách mạng và Người đi Liên Xô. Nguyễn Ái Quốc tiếp tục con đường cứu nước của mình. Một thời gian dài Nguyễn Ái Quốc mất hút trong sổ điều tra của mật thám Pháp và mật thám Đông Dương. Tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trong lời kêu gọi: Kính cáo đồng bào, ngày 6-6-1941. Đến tận lúc này mật thám Đông Dương mới bàng hoàng được nguồn tin cho biết Già Thu, Thu Sơn xuất hiện ở biên giới Việt Trung chính là Nguyễn Ái Quốc .

Nguyễn Ái Quốc một cái tên để lại nhiều dấu ấn lịch sử trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trong cách mạng Việt Nam. Song Người chỉ khiêm tốn nhận mình là "Tôi vẫn là tôi ngày trước, một người yêu nước".

................