1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của Việt Nam" do TS. Phạm Hồng Hạnh biên soạn.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của Việt Nam do TS. Phạm Hồng Hạnh biên soạn

Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của Việt Nam

Tác giả: TS. Phạm Hồng Hạnh biên soạn

Nhà xuất bản Công an nhân dân

3. Tổng quan nội dung sách

Chiếm hơn 71% bề mặt trái đất, từ bao đời nay, biển và đại dương đã trở thành cái nôi cho sự sống của nhân loại, Bước sang thế kỷ 21, :Thế kỷ của biển và đại dương", khai thác biển ngày càng trở thành vấn đề quan trọng mang tính chiến lược của hầu hết các quốc gia trên thế giới, dù quốc gia có biển hay không có biển. Sự cạn kiệt của những tài nguyên trên đất liền, sự chật chội của không gian kinh tế truyền thống do sự bùng nổ dân số không ngừng gia tăng đã khiến các quốc gia ngày càng quan tâm và hướng ra biển.

Nằm bên bờ Tây của biển Đông, biển lớn nhất trong sáu biển lớn của thế giới, biển Việt Nam khá giàu tài nguyên khoáng sản. Ngoài dầu khí, đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện các tích tụ công nghiệp một loạt các khoáng vật quặng và phi quặng (sa khoáng) và các biểu hiện của glauconit, pirit, thạch cao, kết hạch sắt - mangan, cát vôi san hô, trong đó, có một số mỏ sa khoáng có ý nghĩa kinh tế như các mỏ có chứa Inmenit, Rutm, Monazit, Ziacon và các biểu hiện Manhêtit, Caxiterit, Vàng, Crôm, Corindon, Topa, Spiner.

Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồn khoáng sản này với tổng tiềm năng dầu khí được dự báo, đánh giá khoảng 3,8 - 4,2 tỷ tấn dầu quy đổi và khoảng 150 tỷ m khối khí. Ngành dầu khí đã phát hiện và đưa vào khai thác nhiều mỏ dầu khí, đưa Việt Nam vào hàng ngũ các nước xuất khẩu dầu thô, góp phần rất quan trọng cho sự ổn định, phát triển nền kinh tế quốc dân, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Trong giai đoạn vừa qua, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) cũng đã cung cấp gần 35 tỷ m khí khô cho sản xuất, 40% sản lượng điện của toàn quốc, 35% - 40% nhu cầu u-rê và cung cấp 70% nhu cầu khí hóa lỏng cho phát triển công nghiệp và tiêu dùng dân sinh.

Bên cạnh những ý nghĩa to lớn về kinh tế cũng như xã hội mà dầu khí mang lại, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với một số những thách thức lớn:

Một là, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường có thể phát sinh trong quá trình thăm dò, khai thác dầu khí như rò rỉ hay tràn dầu có thể xảy ra do hỏng hóc máy móc, thiết bị trên giàn khoan hoặc trong quá trình chuyển tải dầu của tàu cung ứng, hay do sự hư hỏng của các bồn chứa dầu trên giàn khoan cũng như tàu dịch vụ; sự biến đổi của môi trưòng sinh thái biển do các hóa chất được sử dụng, chất thải thải ra trong quá trình thăm dò, khai thác...;

Hai là, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên trong tương lai khi hầu hết các mỏ dầu ở Việt Nam đều đã khai thác trong thời gian dài và hiện đang trong giai đoạn cuối dẫn tới suy giảm sản lượng tự nhiên, mỏ Bạch Hổ cung cấp sản lượng lớn nhất, chiếm hơn 60% sản lượng của Tổng công ty dầu khí Việt Nam từ trước đến nay, đã vào giai đoạn suy kiệt;

Ba là, sự phức tạp trong các tranh chấp tại biển Đông với những hành vi xâm phạm quyền chủ quyền của Việt Nam trên thềm lục địa ngày càng gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng, đe dọa nghiêm trọng an ninh, lợi ích quốc gia trên biển.

Nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu, giảng dạy và phổ biến, tuyên truyền pháp luật quốc tế, tác giả đã mạnh dạn biên soạn cuốn sách "Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của Việt Nam". Tác giả đã cố gắng phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế; cung cấp những thông tin về thực tiễn quản lý tài nguyên khoáng sản biển, cụ thể là dầu khí của Việt Nam và một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý nguồn tài nguyên này.

Cuốn sách được biên soạn với cấu trúc chương mục như sau:

Chương 1. Lý luận về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế

1. Khái niệm tài nguyên khoáng sản biển và quản lý tài nguyên khoáng sản biển

2. Lý luận pháp luât quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển

Chương 2. Thực trạng pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển

1. Quản lý hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên khoáng sản biển

2. Bảo vệ môi trường biển từ hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản

3. Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản biển

Chương 3. Pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam

1. Pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam

2. Thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam

3. Một số giải pháp nâng cao hoạt động quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam

Mở đầu cuốn sách, tác giả trình bày khái niệm khoáng sản biển và quản lý khoáng sản biển, lịch sử hình thành phát triển, nguyên tắc của pháp luật quốc tế và chủ thể có thẩm quyền quản lý khoáng sản.

Các chương tiếp theo, bạn đọc được tìm hiểu những quy định của pháp luật quốc tế về quản lý thăm dò, khai thác khoáng sản biển tại thềm lục địa rộng 200 hải lý không có tranh chấp, thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý, thềm lục địa chưa phân định và Vùng - di sản chung của nhân loại. Trong đó, tác giả tập trung trình bày những quy định liên quan đến chủ thể, các hoạt động được cho phép tiến hành trong Vùng, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ và xử lý vi phạm của các chủ thể trong quá trình tiến hành hoạt động khai thác tại Vùng.

Khoáng sản biển từ lâu đã mang lại những giá trị kinh tế lớn cho nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, khai thác khoáng sản biển cũng có những tác động không nhỏ đến môi trường. TS. Phạm Hồng Hạnh làm rõ nghĩa vụ chung, trách nhiệm của chủ thể trong bảo vệ, giữ gìn môi trường biển và một số biện pháp bảo vệ giữ gìn môi trường biển theo Công ước quốc tế về luật biển.

Mặc dù khoáng sản biển ở Việt Nam khá phong phú nhưng dầu khí vẫn là nguồn tài nguyên được khai thác phổ biến nhất hiện nay. Xét một cách tổng thể hệ thống văn bản hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho hoạt động quản lý dầu khí. Tuy nhiên, hệ thống này còn có những quy định chung chung, chưa cụ thể hoặc không hợp lý; quy định nằm rải rác trong nhiều văn bản: Luật Dầu khí, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo…; một số quy định trong bảo vệ môi trường chưa tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Chương cuối sách mang đến bức tranh toàn cảnh về thực tiễn thực thi pháp luật về quản lý dầu khí của Việt Nam: tiềm năng dầu khí của Việt Nam, thực tiễn thăm dò khai thác, vấn đề bảo vệ môi trường biển và giải quyết tranh chấp quốc tế trong hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí. Bên cạnh đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động quản lý tài nguyên dầu khí của Việt Nam.

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách “Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của Việt Nam” khái quát những vấn đề lý luận và pháp lý về quản lý tài nguyên khoáng sản biển trong pháp luật quốc tế. Qua phân tích thực tiễn quản lý tài nguyên khoáng sản biển nói chung và khai thác dầu khí ở Việt Nam nói riêng, tác giả đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý nguồn tài nguyên này.

Những kiến thức pháp lý được trình bày trong cuốn sách sẽ góp phần nâng cao nhận thức cho mỗi người dân, các tổ chức cá nhân đang trực tiếp tiến hành các hoạt động thăm dò khai thác tài nguyên biển về pháp luật quốc tế nói chung, luật biển quốc tế nói riêng.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Pháp luật quốc tế về quản lý tài nguyên khoáng sản biển và thực tiễn của Việt Nam".

Luật khoáng sản năm 2010 quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân thăm dò khoáng sản tại Điều 42 như sau:

1. Tổ chức, cá nhân thăm dò khoáng sản có các quyền sau đây:

a) Sử dụng thông tin về khoáng sản liên quan đến mục đích thăm dò và khu vực thăm dò;

b) Tiến hành thăm dò theo Giấy phép thăm dò khoáng sản;

c) Chuyển ra ngoài khu vực thăm dò, kể cả ra nước ngoài các loại mẫu vật với khối lượng, chủng loại phù hợp với tính chất, yêu cầu phân tích, thử nghiệm theo đề án thăm dò đã được chấp thuận;

d) Được ưu tiên cấp Giấy phép khai thác khoáng sản tại khu vực đã thăm dò theo quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này;

đ) Đề nghị gia hạn, trả lại Giấy phép thăm dò khoáng sản hoặc trả lại một phần diện tích khu vực thăm dò khoáng sản;

e) Chuyển nhượng quyền thăm dò khoáng sản;

g) Khiếu nại, khởi kiện quyết định thu hồi Giấy phép thăm dò khoáng sản hoặc quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

h) Quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân thăm dò khoáng sản có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nộp lệ phí cấp Giấy phép thăm dò khoáng sản, nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật;

b) Thực hiện đúng Giấy phép thăm dò khoáng sản, đề án thăm dò khoáng sản đã được chấp thuận;

c) Báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép xem xét, chấp thuận trong trường hợp thay đổi phương pháp thăm dò hoặc thay đổi khối lượng thăm dò có chi phí lớn hơn 10% dự toán;

d) Bồi thường thiệt hại do hoạt động thăm dò gây ra;

đ) Thông báo kế hoạch thăm dò cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thăm dò khoáng sản trước khi thực hiện;

e) Thu thập, lưu giữ thông tin về khoáng sản và báo cáo kết quả thăm dò khoáng sản cho cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản; báo cáo các hoạt động khác cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

g) Thực hiện các công việc khi Giấy phép thăm dò khoáng sản chấm dứt hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều 46 của Luật này;

h) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.