1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Tìm hiểu kinh đô các triều đại Việt Nam" do GS.TS Cao Ngọc Lân biên soạn.

GS.TS Cao Ngọc Lân sinh năm 1950, trong một gia đình trung nông, có truyền thống hiếu học tại Phong Châu, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ nhỏ, ông đã có cơ hội học tập từ tấm gương sáng hiếu học của người cha, nhất là bộ môn lịch sử dân tộc Việt Nam là môn ông thích thú học và tìm hiểu.

- Năm 2010 được phong học vị Tiến sĩ                                      

- Năm 2012 nhận học hàm Giáo sư                               

- Từ năm 2000  đến nay: Nghiên cứu khoa học và Hợp tác giáo dục, giảng dạy tại các trường Đại học ở đất nước Đài Loan.

Trong thời gian nghiên cứu khoa học và dạy học, ông đã viết khá nhiều sách. Ngoài những sách viết về lịch sử, văn hóa Việt Nam, GS-TS Cao Ngọc Lân còn có những tác phẩm viết về nghiên cứu phong thủy và tôn giáo như: “Mười hai con giáp trong Âm dương Ngũ hành” (Nxb. Đồng Nai, năm 2012); “Phong thủy theo quan niệm người xưa” (Nxb. Lao Động, năm 2012); “Văn hóa Phật giáo trong lòng người Việt” (Nxb. Lao Động, năm 2011)... nhiều bài báo có giá trị nghiên cứu về văn hóa, lịch sử Việt Nam và thế giới được đăng trên các Tạp chí nổi tiếng ở nước ngoài, nhất là ở Đài Loan.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Tìm hiểu kinh đô các triều đại Việt Nam - GS.TS Cao Ngọc Lân

Tìm hiểu kinh đô các triều đại Việt Nam

Tác giả: GS.TS Cao Ngọc Lân biên soạn

Nhà xuất bản Hồng Đức

3. Tổng quan nội dung sách

Kinh đô là trung tâm chính trị - hành chính và đi liền với nó là trung tâm quân sự, kinh tế và văn hoá của một đất nước. Bất cứ một triều đại, một thể chế chính trị nào khi nắm chính quyền, công việc đầu tiên phải là xác định vị trí đóng đô. Việc dời đô và định đô là công việc có ý nghĩa trọng đại không chỉ phản ánh nhu cầu của triều đại, của đất nước, xã hội, mà còn là thước đo trình độ kinh tế - xã hội, trình độ văn hóa, văn minh của một đất nước, một vương triều.

Người xưa từng tổng kết việc dời đô, định đô: “Cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh”. Như thế, dưới mắt của các chiến lược gia, kinh đô phải là nơi hội tụ và kết tinh tinh hoa của quá khứ, phản ánh đầy đủ và chân thực đời sống hiện tại, có khả năng đại diện và dẫn dắt tương lai phát triển của đất nước.

Nước Đại Việt kể từ các triều đại vua Hùng đã diễn ra nhiều cuộc định đô và dời đô, mỗi lần như vậy hoặc là phản ánh yêu cầu khác nhau của từng giai đoạn lịch sử, hoặc là chọn vùng ảnh hưởng hoặc quê hương của vị vua triều đại đó. Vì vậy mà cõi đất Phong Châu của vua Hùng, Cổ Loa của Thục Phán, Mê Linh của Hai Bà Trưng, Hoa Lư của Đinh Bộ Lĩnh rất bề vững. Sau này Hồ Quý Ly dời dô về Tây Đô, nhà Nguyễn đóng đô ở Phú Xuân, nhà Tây Sơn đóng đô ở Bình Định, chính quyền thời Pháp đô hộ, hay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đóng đô ở Sài Gòn. Những kinh đô này thời gian tồn tại là điều được giới Sử học và nhà Phong Thuỷ rất quan tâm cần có những nghiên cứu thống nhất.

Nhiều triều đại khi lập quốc đóng đô tại quê hương như: Hai Bà Trưng ở Mê Linh, Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư, Hồ Quý Ly ở Tây Đô, Nhà Tây Sơn đóng đô ở Bình Định nhưng thời gian tồn tại khá ngắn ngủi... Đến thời Lý Công Uẩn lên ngôi thì ông lại không chọn quê hương Kinh Bắc, mặc dầu đó là quê gốc của ông, mà lại chọn Đại La làm kinh đô vì Lý Công Uẩn thấy rõ tầm quan trọng của kinh thành đối với vận mệnh của đất nước và vương triều. Theo ông, việc định đô phải nhằm “mưu toan nghiệp lớn, tính kế cho con cháu muôn vạn đời”. Ông nhận thấy “thành Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác”.

Đầu năm 1010, Lý Công Uẩn tự tay viết Chiếu dời đô nói rõ lý do dời đô và quyết định chọn thành Đại La (Hà Nội) làm đô thành của nước Đại Việt. Bài chiếu có đoạn viết: “Chỉ vì muốn đóng đô ở trung tâm mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi. Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã đúng ngôi Nam, Bắc, Đông, Tây, lại tiện hướng nhìn sông, tựa núi. Địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ, ngập lụt, muôn vật rất mực phong phú, tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước. Cũng là kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.

Việc Lý Công Uẩn quyết định dời đô ra Thăng Long ngay sau khi ông lên ngôi vua một năm, không đơn giản chỉ là việc di chuyển kinh đô từ địa điểm này sang địa điểm khác, mà nó thể hiện một tầm nhìn xa trông rộng của người khởi nghiệp nhà Lý; phản ánh sự trưởng thành của dân tộc ta, thể hiện sức sống của một dân tộc anh hùng.

Cùng với sự biến động của lịch sử, của đất nước, nhiều địa danh đã được chọn làm kinh đô của các vương triều khác nhau như Tây Ðô và Lam Kinh ở Thanh Hóa, thành Hoàng Ðế ở Bình Ðịnh. Ðặc biệt là thành Phú Xuân sau này gọi là Huế được chọn làm kinh đô dưới thời Tây Sơn (1789 - 1802) và thời Nguyễn (1802 - 1945); xét về mặt vị trí, thời đó, Huế (Phú Xuân) nằm ở trung tâm đất nước lại có phong cảnh nên thơ; do vậy, được cả Quang Trung và nhà Nguyễn sau này chọn làm nơi đóng đô lập quốc.

Hiểu biết về kinh đô nước Việt được xây dựng qua các triều đại phong kiến cũng chính là hiểu rõ thêm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Việc bảo tồn các di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa vật chất nói riêng, trong đó có các cố đô là một trách nhiệm, một nghĩa vụ thiêng liêng, là niềm tự hào của mỗi người dân đối với tài sản vô giá do tổ tiên đã tốn biết bao công sức, trí tuệ và tiền của để tạo dựng trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc.

Cuốn sách "Tìm hiểu về Kinh đô các Triều đại Việt Nam” được phân tích sâu hơn về từng kinh đô Việt Nam từ nhiều góc độ khác nhau như:

- Lịch sử hình thành các kinh đô

- Thế phong thủy tốt hay xấu của kinh đô cho sự phát triển của dân tộc.

- Thời gian tồn tại của kinh đô đó dài hay ngắn, nguyên nhân?

Ngay lời mở đầu sách, tác giả nói rõ: “Kinh đô là trung tâm chính trị, hành chính và đi liền với nó là trung tâm quân sự, kinh tế và văn hóa của một đất nước. Bất cứ nột triều đại, một thể chế chính trị nào khi nắm chính quyền, công việc đầu tiên là phải xác định vị trí đóng đô…”

Sách “Tìm hiểu về Kinh đô các Triều đại Việt Nam” được chia làm 3 Chương:

Chương I: Các khái niệm liên quan đến long mạch (Từ trang 7 đến trang 68).

Trong chương này, tác giả nói rõ về “Tìm hiểu Âm dương; Thuyết Ngũ hành; Tìm hiểu về Long mạch trong phong thủy; Long mạch Á châu và Đại Việt; Các Chi mạch lớn của nước Việt Nam; Những vùng đất Việt Nam có Long mạch Đế vương và Luận về đất đóng đô”.

Chương II: Lịch sử về các kinh đô triều đại Việt Nam (Từ trang 69 đến trang 235).

Bao gồm:

Quá trình tìm chọn nơi đóng đô của Triều đại Việt Nam; Phong Châu – Kinh đô của Nhà nước Văn Lang; Cổ Loa – Kinh đô Nhà nước Âu Lạc; Họ Triệu và Nhà nước Nam Việt; Thủ phủ thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc; Khởi nghĩa Hai Bà Trưng và Kinh đô Mê Linh; Sự hình thành và phát triển của thành Đại La; Kinh đô Hoa Lư nước Đại Cồ Việt; Thăng Long – Kinh đô muôn đời của Việt Nam; Thành Tây Đô – Kinh đô của Nhà Hồ; Thành Hoàng Đế - Kinh đô của Nhà Tây Sơn; Phú Xuân -  Kinh đô Triều Nguyễn và Kinh đô Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.

Chương III: Một số nghiên cứu về các kinh đô Việt Nam (Từ trang 236 đến trang 283).

4. Đánh giá bạn đọc

Cuốn sách "Kinh đô nước Việt qua các triều đại phong kiến Việt Nam" được các tác giả trình bày một cách khoa học, ngắn gọn, theo trình tự thời gian, nhiều tư liệu thiết thực, rất thuận tiện cho việc tìm hiểu và nghiên cứu về các kinh đô nước Việt xưa.

Đây là cuốn sách đầu tiên viết về Thế phong thủy và sự hình thành Kinh đô các triều đại Việt Nam. "Kinh đô nước Việt qua các triều đại phong kiến Việt Nam" thực sự là một cuốn sách hữu ích đối với bạn đọc quan tâm, nghiên cứu về lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam nói chung và kinh đô của các triều đại phong kiến Việt Nam nói riêng. 

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Kinh đô nước Việt qua các triều đại phong kiến Việt Nam".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây một số thông tin về vị trí của Kinh đô Đại La (Hoành thành Thăng Long) để bạn đọc tham khảo:

1.000 năm trước, ngày Quý Sửu, tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), Điện tiền chỉ huy sứ triều Lê - Lý Công Uẩn lên ngôi mở đầu thời hưng thịnh Đại Việt. Giữa năm sau (Canh Tuất 1010), sau chuyến xa giá về quê bái Tổ ở châu Cổ Pháp (Tiên Sơn, Bắc Ninh nay), Thái Tổ Lý Công Uẩn tự tay viết Chiếu dời đô, chọn đất Đại La làm "nơi thượng đô của kinh sư muôn đời".

Đất ấy "ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Nam - Bắc - Tây - Đông, tiện hình thế núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ về ngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh... thực là chỗ tụ hội của bốn phương...". Bước ngoặt của Đại Việt - thiên đô, được vị vua chí lớn và uyên bác quyết đoán sáng suốt với một tầm nhìn chiến lược cả về địa - chính trị, lẫn về phong thủy.

Con mắt địa - chính trị của vua nhận ra một Đại La là trung tâm của châu thổ sông Hồng rộng lớn và màu mỡ, dân đông, giỏi nông tang và bách nghệ, cùng là vật thịnh bậc nhất Đại Việt đương thời; lại là đất văn hiến lâu đời do tiếp nhận và cải biến hai nền văn minh Hán học và Phật học vào thời ấy. Đất ấy cũng là đầu mối cả các con đường bộ Bắc - Nam, Đông - Tây, nhất là đường thủy vì nằm bên con sông lớn nhất trăm sông trong miền chia nước: sông Cái - sông Hồng. Sông Cái lại như con hào tự nhiên mênh mang che chở mạn Bắc thành lũy, khi có nạn giặc ngoài. Rõ là thế đất đế đô của thời mở mang, hưng thịnh dài lâu, khác xa kinh đô Hoa Lư thế hiểm, nặng về lui giữ của thời mới gây nền tự chủ Đinh - Lê.

Còn như phong thủy của Đại La, mà từ mùa thu 1010 được Lý Thái Tổ đặt tên mới: Thăng Long, thì trong văn Chiếu, vua nói về cái thế đất "Rồng cuộn hổ ngồi", có "hình thế núi sông sau trước", "tụ hội (khí) của bốn phương", nên đã thấy hiển nhiên "muôn vật phồn thịnh".

Nói đến phong thủy Thăng Long, xưa nay người ta vẫn thường truyền tụng về chuyện Cao Biền nhà Đường, khi làm An Nam Tiết độ sứ, bồi đắp thêm thành Đại La làm lỵ sở đô hộ, đã từng trấn yểm long mạch Đại La. Cao Biền từng đem bùa yểm để trấn hãm bớt khí dữ của Bạch Hổ, mong giữ vượng bền khí lành của Thanh Long, ngõ hầu giữ ách đô hộ ngoại bang bền lâu mãi mãi. Nhưng tinh khí đất này linh diệu quá, nhân tài đất này tuấn kiệt quá, khiến cho mọi phép thuật phù thủy của họ Cao phải bại, cũng như mọi thế lực bên ngoài không thế nào khuất phục. Hẳn do cái hồn cốt của chuyện cao xa sảng khoái quá, nên nhiều khả năng là khám phá về phong thủy Thăng Long của các thế hệ người Việt kế tiếp nhau dày dặn mãi lên, nhưng người ta vẫn nói do Cao Biền dò tìm mà biết, rồi làm tấu bẩm với vua Đường. Đúng sai thế nào chưa biết chắc, nhưng phong thủy Thăng Long theo như truyền tụng đến nay thì quả là tuyệt diệu.

Nhìn đại cục, thì một mạch đất cực lớn (đại cán long) khởi từ núi Côn Lôn xứ Bắc chạy đến nước ta đã chia làm 3 chi lớn, trong đó có tới 27 "ngôi đất kết" (đất "thăng" khí mạnh từ "long mạch"), có thể phát tới thiên tử, còn lại là hàng nghìn ngôi đất lớn nhỏ kết phát nhân kiệt.

Với vượng khí Thăng Long, nhà Lý làm chủ xã tắc 216 năm, trải 9 triều vua; nhà Trần 175 năm, 12 triều vua; nhà Lê cộng thời Lê sơ, Lê trung hưng, Lê mạt 356 năm, 26 triều vua.