1. Khái quát chung về hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định tại Điều 192 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

2. Phân tích và bình luận các đặc điểm của tội phạm 

2.1 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Điều luật gồm 5 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm và khung hình phạt cơ bản; các khoản 2, 3 quy định các trường họp phạm tội tăng nặng, khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung đối với người phạm tội và khoản 5 quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
Sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm cấu thành tội khi nào?
>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162
Đối tượng của tội phạm này là các loại hàng giả (trừ các loại hàng giả thuộc phạm vi quy định của Điều 193, Điều 194 và Điều 195 BLHS). về mặt luật định cũng như trên thực tể, hàng giả có thể thuộc tất cả các loại hàng hoá, từ hàng cao cấp đến những mặt hàng tiêu dùng thông thường. Hàng giả có thể là giả hàng hoá trong nước nhưng cũng có thể là giả hàng hoá nước ngoài. Hàng giả có thể là giả toàn bộ nhưng cũng có thể chỉ giả một phần.
Hàng giả theo Điều 192 BLHS bao gồm các trường hợp sau: 
- Hàng hoá không có giá trị sử dụng, công dụng; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hoá; có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;
- Hàng hoá có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn chất lượng hoặc quy chuẩn kỹ thuật đã đãng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hoá;
Trường hợp hàng giả liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý thuộc phạm vi quy định của Điều 226 BLHS.

2.1.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 

2.1.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Điều luật quy định hai loại hành vi:
+ Hành vi sản xuất hàng giả. Đây là hành vi tạo ra các loại hàng giả nói trên. Hành vi này có thể là che tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng giả.  Người phạm tội có thể tham gia vào toàn bộ quá trình làm ra hàng giả hoặc chỉ một công đoạn của quá trình làm ra hàng giả.
+ Hành vi buôn bản hàng giả. Đây là hành vi mua đi bán lại loại hàng hoá biết rõ là giả nhằm thu lời bất chính. Hành vi này có thể là chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc là hoạt động khác đưa hàng giả vào lưu thông 
Hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả bị coi là tội phạm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30 triệu đồng trở lên hoặc tuy dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189,190, 191, 193, 194, 195,196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; 
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % trở lên;
+ Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng trở lên.

2.1.3 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý.

2.1.4 Khung hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 01 tỷ đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm sản xuất, buôn bán hàng giả mà trong đó có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm;   
- Cỏ tỉnh chất chuyên nghiệp: Đây là trường họp người phạm tội đã liên tiếp phạm tội (từ 05 lần trở lên)(39,)và coi việc phạm tội này như là nguồn thu nhập chính.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Đây là trường hợp phạm tội mà chủ thể đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình khi thực hiện hành vi phạm tội;
- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: Đây là trường họp phạm tội mà chủ thể đã lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức khi thực hiện hành vi phạm tội;
- Hàng giả tương đương với so lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, cóng dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng: Đây là trường hợp phạm tội mà hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150 triệu đồng đến dưới mức 500 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định ở khoản 3 của điều luật);
- Thu lợi bất chỉnh từ 100 triệu đồng đến dicới 500 triệu đồng: Đây là trường họp phạm tội mà người phạm tội đã thu được khoản lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới mức 500 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định ở khoản 3 của điều luật);
- Làm chết người: Đây là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả làm (01) người chết do đã sử dụng hàng giả đó;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên'. Đây là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội đã dẫn đến hậu quả làm người đã sử dụng hàng giả bị thương tích hoặc bị tổn hại cho sức khỏe mà tỷ lệ tổn thương cơ thể là từ 61% trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tắn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61 °/o đến 121%: Đây là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội đã dẫn đến hậu quả gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121% (vì vượt mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định ở khoản 3 của điều luật);
- Gãy thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng: Đây là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội đã dẫn đến thiệt hại tài sản cho người khác từ 500 triệu đồng đến dưới mức 1.5 tỷ đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định ở khoản 3 của điều luật);
- Buôn bán qua biên giớỉ; 
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng giả thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS. 
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng trong trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Hàng giả tương đương với so lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội mà hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng có trị giá từ 500 triệu đồng trở lên;
- Thu lợi bất chỉnh 500 triệu đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội mà người phạm tội đã thu được khoản lợi bất chính là từ 500 triệu đồng trở lên;
- Làm chết 02 người trở lên: Đây là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả làm 02 người chết trở lên do đã sử dụng hàng giả;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên: Đây là trường họp phạm tội mà hành vi phạm tội đã dẫn đến hậu quả thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% trở lên;
- Gây thiệt hại về tài sản 1,5 tỷ đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội mà hành vi phạm tội đã dẫn đến thiệt hại tài sản cho người khác từ 1,5 tỷ đồng trở lên.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể áp dụng đối với người phạm tội) là phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng;
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 2 của điều luật (các điểm a, d, đ, e, g, h, i, k và 1) thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 03 tỷ đồng đến 06 tỷ đồng;
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 3 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại là phạt tiền từ 06 tỷ đồng đến 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
- Nếu hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

2.2 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm

Điều luật gồm 5 khoản. Trong đó, khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm và khung hình phạt cơ bản; các khoản 2, 3 quy định các trường họp phạm tội tăng nặng; khoản 4 quy định khung hình phạt bổ sung đối với người phạm tội và khoản 5 quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối tượng của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm là hàng cấm. Đó là hàng hoá Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng hoặc chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam.  Trong các hàng cấm này có một số được BLHS quy định là đối tượng của tội phạm khác nên không còn là đối tượng của tội này như vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; các chất ma tuý V.V.. Hàng cấm thuộc phạm vi quy định của Điều 190 có thể là thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng; thuốc lá điếu nhập lậu; pháo nổ v.v... Danh mục hàng cấm theo điều luật này không cố định mà có thể có sự thay đổi.

2.2.1 Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng cấm được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS. 

2.2.2 Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm 

Điêu luật quy định hai loại hành vi:
+ Hành vi sản xuất hàng cẩm\ Là hành vi làm ra hàng cấm. Hành vi này có thể là chế tạo, chế bản, in ấn, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng cấm.  Người phạm tội có thế tham gia vào toàn bộ quá trình làm ra hàng cấm hoặc chỉ một công đoạn của quá trình làm ra hàng cấm.
+ Hành vi buôn bán hàng cấm: Là hành vi mua đi bán lại hàng cấm dưới bất kỳ hình thức nào nhàm thu lợi bất chính như mua bán theo nghĩa thông thường, trao đổi, thanh toán bằng hàng cấm... Hành vi này có thể là chào hàng, bày bán, lưu giữ, bảo quản, vận chuyển, bán buôn, bán lẻ, xuất khẩu, nhập khẩu hoặc là hoạt động khác đưa hàng cấm vào lưu thông. 
Hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm bị coi là tội phạm nếu thuộc một trong các trường họp sau:
+ Sản xuất, buôn bán thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 50 kilôgam trở lên hoặc từ 50 lít trở lên;
+ Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 1.500 bao trở lên;
+ Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam trở lên;
+ Sản xuất, buôn bán hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 100 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên; 
+ Sản xuất, buôn bán hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 200 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên;
+ Sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 190 nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều 190 hoặc tại một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của BLHS hoặc đã bị kểt án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. 

2.2.3 Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cổ ý.

2.2.4 Khung hình phạt được áp dụng

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản áp dụng đối với người phạm tội là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 01 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất là phạt tiền từ 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 05 năm đến 10 năm áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Có tổ chức-. Đây là trường hợp đồng phạm sản xuất, buôn bán hàng cấm mà trong đó có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm; 
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn-. Đây là trường hợp phạm tộ,i sản xuất, buôn bán hàng cấm mà chủ thể đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình khi thực hiện hành vi phạm tội.
- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức: Đây là trường họp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm mà chủ thể đã lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức khi thực hiện hành vi phạm tội;
- Có tính chất chuyên nghiệp: Đây là trường hợp người phạm tội đã liên tiếp phạm tội (từ 05 lần trở lên)  và coi việc phạm tội này như là nguồn thu nhập chính.
- Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cẩm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng từ 100 kilôgam đến dưới 300 kilôgam hoặc từ 100 lít đến dưới 300 lít: Đây là trường hợp phạm tội mà vật phạm pháp là thuốc bảo vệ thực vật có số lượng từ 100 kg đến dưới mức 300 kg hoặc từ 100 lít đến dưới mức 300 lít (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật);
- Thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao: Đây là trường hợp phạm tội mà vật phạm pháp là thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 3.000 bao đến dưới mức 4.500 bao (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật);
- Pháo nổ từ 40 kilôgam đến dưới 120 kiỉôgam: Đây là trường hợp phạm tội mà vật phạm pháp là pháo nổ có số lượng từ 40 kg đến dưới mức 120 kg (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật);
- Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng: Đây là trường hợp phạm tội mà vật phạm pháp là hàng hóa khác không thuộc các trường hợp ở trên mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá từ 300 triệu đồng đến dưới mức 500 triệu đồng hoặc người phạm tội thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới mức 500 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật);
- Hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới 01 tỷ đồng hoặc thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới 700 triệu đồng: Đây là trường hợp phạm tội mà vật phạm pháp không thuộc các trường họp nói trên mà là hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam có trị giá từ 500 triệu đồng đến dưới mức 01 tỷ đồng hoặc người phạm tội thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng đến dưới mức 700 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật);
- Buôn bán qua biên giới,  trừ hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu;
- Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS. 
Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 08 năm đến 15 năm áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:
- Thuốc bảo vệ thực vật mà Nhà nước cấm kỉnh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng 300 kilôgam trở lên hoặc 300 lít trở lên',
- Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên',
- Pháo nô 120 kilôgam trở lên',
- Hàng hóa khác mà Nhà nước cấm kỉnh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng trị giá 500 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên;
- Hàng hóa chưa đuọc phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam trị giá 01 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính 700 triệu đồng trở lên.
Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể áp dụng đối với người phạm tội) là phạt tiền từ 20 triệu đồng đển 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật, thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng;
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 2 của điều luật (các điểm a, d, đ, e, g, h, i, k và 1), thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 03 tỷ đồng đến 06 tỷ đồng;
- Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 3 của điều luật, thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại là phạt tiền từ 06 tỷ đồng đến 09 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
- Nếu hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê