- 1. Các yếu tố cấu thành tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- 1.1 Chủ thể của tội phạm
- 1.2 Khách quan của tội phạm
- 1.3 Mặt chủ quan
- 1.4 Khách thể của tội phạm
- 2. Khung hình phạt tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
- 2.1. Hình phạt chính đối với cá nhân
- 2.2. Các tình tiết định khung tăng nặng
- 3.3. Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại
- 3.4. Hình phạt bổ sung
- 4. So sánh với các tội danh tương tự và pháp luật quốc tế
- 4.1. Phân biệt các tội danh liên quan
- 4.2 So sánh với pháp luật quốc tế
- 4.2.1 So sánh với pháp luật Trung Quốc
- 4.2.2 So sánh với pháp luật Singapore
- 5. Tổng hợp và phân tích bản án thực tế
- 5.1. Phân tích về án lệ và bản án thực tế
- 5.2. Vấn đề định danh và định giá hàng cấm trong thực tiễn
- 5.4 Khó khăn thực tiễn và vướng mắc áp dụng
- 6. Kiến nghị, đề xuất các giải pháp hoàn thiện
- Kết luận
Hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được hiểu là việc cất giữ hoặc di chuyển trái phép các loại hàng hóa mà pháp luật nghiêm cấm. Việc điều chỉnh hành vi này bằng pháp luật hình sự khẳng định chính sách nghiêm khắc của Nhà nước trong việc kiểm soát các mặt hàng có nguy cơ gây hại, từ đó tạo ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc để đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này.
Để hiểu rõ Tội tàng trữ vận chuyển hàng cấm được quy định tại điều 191 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 trước tiên, cầm tìm hiểu về cấu thành tội phạm của tội danh này như sau:
1. Các yếu tố cấu thành tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1.1 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội danh này bao gồm cá nhân và pháp nhân thương mại.
- Đối với cá nhân: Bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể là chủ thể của tội phạm này.
- Đối với pháp nhân thương mại: Theo Khoản 5 Điều 191 BLHS 2015, pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm này. Pháp nhân thương mại được xác định là tổ chức có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận, và hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện nhân danh pháp nhân đó.
Ví dụ thực tiễn: Một công ty vận tải được thuê để chở hàng hóa, nếu người đại diện hoặc nhân viên của công ty biết rõ đó là hàng cấm và vẫn thực hiện, thì cả cá nhân người thực hiện và pháp nhân công ty đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.2 Khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện thông qua hai hành vi độc lập hoặc kết hợp: "tàng trữ hàng cấm" và "vận chuyển hàng cấm".
- Hành vi tàng trữ: Là hành vi cất giữ, cất giấu trái phép hàng cấm ở bất kỳ nơi nào, có thể là trong người, trong nhà, trong phương tiện giao thông, hoặc tại cơ quan, không kể thời gian dài hay ngắn. Điều quan trọng là hành vi này không nhằm mục đích để bán. Nếu có mục đích để bán, hành vi sẽ cấu thành tội "Sản xuất, buôn bán hàng cấm" theo Điều 190.
- Hành vi vận chuyển: Là hành vi di chuyển hàng cấm từ nơi này đến nơi khác trên lãnh thổ Việt Nam, bằng bất kỳ phương tiện nào, bao gồm đường bộ, đường thủy, đường hàng không. Tương tự như hành vi tàng trữ, hành vi vận chuyển chỉ bị truy cứu theo Điều 191 nếu không có mục đích để bán.
Tội phạm được coi là hoàn thành ngay khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi tàng trữ hoặc vận chuyển hàng cấm, không cần có hậu quả cụ thể xảy ra. Để truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi phải thỏa mãn các dấu hiệu định tội về định lượng cụ thể như số lượng (kg, lít, bao), giá trị hàng hóa hoặc số tiền thu lợi bất chính theo quy định tại Khoản 1 Điều 191.
Ví dụ thực tiễn: Bản án số 17/2023/HS-ST của TAND tỉnh Ninh Bình là một minh chứng. Bị cáo Tạ Văn Q bị bắt khi đang tàng trữ 8,274 kg pháo nổ. Lời khai của bị cáo cho biết mua pháo để sử dụng cá nhân vào dịp Tết, không có ý định buôn bán. Căn cứ vào trọng lượng pháo nổ thu giữ được (vượt quá mức tối thiểu 6 kg quy định), Tòa án đã tuyên bị cáo phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" theo Điểm c, Khoản 1, Điều 191 BLHS.
1.3 Mặt chủ quan
Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là tàng trữ, vận chuyển hàng cấm là trái pháp luật và gây nguy hiểm cho xã hội. Vấn đề quan trọng là cần xác định ý chí chủ quan này có phải là cố ý trực tiếp hay có thể bao gồm cả cố ý gián tiếp hay không. Một số quan điểm cho rằng tội này chỉ có thể thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp , tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình và mong muốn hậu quả xảy ra. Ngược lại, một số quan điểm khác lại cho rằng lỗi cố ý gián tiếp cũng có thể xảy ra.
Sự không thống nhất này có ý nghĩa pháp lý quan trọng. Lỗi cố ý gián tiếp xảy ra khi người phạm tội nhận thức được hành vi có thể là hàng cấm nhưng vẫn làm (bỏ mặc cho hậu quả xảy ra), ví dụ như một người vận chuyển một kiện hàng kín mít, nghi ngờ đó là hàng cấm nhưng vì tiền công cao mà vẫn thực hiện. Sự thiếu rõ ràng trong việc xác định loại lỗi này có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đồng nhất giữa các cơ quan tố tụng. Điều này làm phát sinh khó khăn trong thực tiễn xét xử, đặc biệt là trong các trường hợp mà ý định của người phạm tội không rõ ràng, đòi hỏi công tác điều tra phải đặc biệt cẩn trọng để chứng minh ý chí chủ quan.
1.4 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội "Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" là trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trật tự trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông, kinh doanh và sử dụng các loại hàng hóa bị cấm. Tội phạm này xâm hại đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý các loại hàng hóa có tầm quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế và trật tự an toàn xã hội.
Đối tượng tác động của tội phạm là các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, hoặc các hàng hóa chưa được phép lưu hành, sử dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, Điều 191 của BLHS đã loại trừ một số loại hàng hóa đặc thù như: chất ma túy, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất độc. Hành vi tàng trữ, vận chuyển trái phép các loại hàng hóa này sẽ bị xử lý theo các điều luật chuyên biệt tương ứng, ví dụ như Tội tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 249, 250) hoặc Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng (Điều 304).
Ví dụ: Một cá nhân tàng trữ 10 kg pháo nổ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 191. Tuy nhiên, nếu cá nhân đó tàng trữ 10 gam heroin, hành vi sẽ bị xử lý theo Điều 249 về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy do đối tượng tác động của tội phạm là khác nhau.
2. Khung hình phạt tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Nội dung điều 191, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:
Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Hàng phạm pháp là hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sơ chế, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối;
b) Hàng phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
c) Thu lợi bất chính từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Hàng phạm pháp trị giá dưới 100.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính dưới 50.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
đ) Vận chuyển hàng cấm qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
d) Có tính chất chuyên nghiệp;
đ) Hàng phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
e) Thu lợi bất chính từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
g) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại;
h) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Hàng phạm pháp trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;
c) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và h khoản 2 Điều này mà qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
2.1. Hình phạt chính đối với cá nhân
Các mức hình phạt đối với cá nhân được chia thành ba khung, tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi :
- Khung 1 (Khoản 1 Điều 191): Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Khung này áp dụng cho các trường hợp hành vi tàng trữ, vận chuyển hàng cấm đạt mức tối thiểu theo quy định về số lượng, trọng lượng hoặc giá trị.
- Khung 2 (Khoản 2 Điều 191): Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 05 năm. Áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các tình tiết tăng nặng định khung.
- Khung 3 (Khoản 3 Điều 191): Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Áp dụng khi hàng cấm có số lượng đặc biệt lớn hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn.
Ví dụ minh họa: Một người tàng trữ 30 kg pháo nổ sẽ bị xử lý theo Khung 1 của Điều 191. Tuy nhiên, nếu người đó tàng trữ 150 kg pháo nổ, hành vi sẽ bị xử lý theo Khung 3 do số lượng pháo nổ vượt quá 120 kg trở lên.
2.2. Các tình tiết định khung tăng nặng
BLHS 2015 đã liệt kê các tình tiết cụ thể làm căn cứ để định khung hình phạt tăng nặng, bao gồm: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Tái phạm nguy hiểm; và Vận chuyển qua biên giới (trừ thuốc lá điếu nhập lậu).
Việc bổ sung tình tiết "Vận chuyển qua biên giới" vào Điều 191 là một điểm mới so với BLHS 1999. Điều này thể hiện sự coi trọng của nhà làm luật đối với hành vi có yếu tố quốc tế, gây ảnh hưởng đến chủ quyền và an ninh quốc gia. Hành vi này được nhìn nhận là một dạng thức nghiêm trọng của tội "Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm," phản ánh mối lo ngại về việc hàng cấm được đưa lậu vào lãnh thổ Việt Nam.
3.3. Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại
Khoản 5 Điều 191 BLHS quy định các khung hình phạt áp dụng cho pháp nhân thương mại, bao gồm phạt tiền và đình chỉ hoạt động. Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt bổ sung như cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
3.4. Hình phạt bổ sung
Ngoài các hình phạt chính, người phạm tội còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung như phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Sau đây là bảng tổng hợp các ngưỡng định lượng/giá trị áp dụng cho Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm theo Điều 191 BLHS:
4. So sánh với các tội danh tương tự và pháp luật quốc tế
4.1. Phân biệt các tội danh liên quan
Để làm rõ ranh giới giữa các tội danh có dấu hiệu khách quan tương đồng, việc phân biệt giữa các tội danh là rất quan trọng, đặc biệt là giữa tội "Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" và tội "Sản xuất, buôn bán hàng cấm". Ranh giới này rất mỏng manh và chỉ khác nhau ở ý chí chủ quan là "có mục đích để bán hay không". Điều này đặt ra yêu cầu rất cao về công tác điều tra, thu thập chứng cứ để chứng minh ý chí chủ quan của người phạm tội. Ví dụ, một người vận chuyển pháo nổ với số lượng lớn có thể bị nghi ngờ là có ý định buôn bán. Tuy nhiên, nếu họ chỉ là người làm thuê và không biết về người mua, hay chỉ nhận vận chuyển để kiếm tiền công, thì việc chứng minh ý chí "để bán" là rất khó khăn. Cơ quan tố tụng cần phải thu thập các chứng cứ khác như tin nhắn trao đổi, lời khai của các đối tượng liên quan để xác định bản chất của hành vi.
| Tiêu chí | Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Điều 191) | Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190) | Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 189) |
| Căn cứ pháp lý | Điều 191 BLHS 2015, sửa đổi 2017 | Điều 190 BLHS 2015, sửa đổi 2017 | Điều 189 BLHS 2015, sửa đổi 2017 |
| Khách thể | Trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là quản lý việc sản xuất, buôn bán hàng cấm trong nội địa | Trật tự quản lý kinh tế và an toàn xã hội | Chính sách xuất, nhập khẩu của Nhà nước đối với hàng hóa, tiền tệ |
| Mặt khách quan | Tàng trữ: cất giữ trái phép. Vận chuyển: di chuyển từ nơi này đến nơi khác trong nội địa | Sản xuất: chế tạo hàng cấm. Buôn bán: chào hàng, bày bán, lưu giữ, vận chuyển, bán hàng, xuất nhập khẩu hàng cấm | Chuyển dịch hàng hóa, tiền tệ từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc ngược lại |
| Mục đích | Không có mục đích bán. Có thể nhằm mục đích sử dụng cá nhân hoặc nhận tiền công vận chuyển | Có mục đích kinh doanh, kiếm lời | Mục đích trốn thuế, trốn tránh kiểm tra, kiểm soát của cơ quan chức năng |
| Đối tượng tác động | Hàng hóa bị cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng (loại trừ các đối tượng đặc thù) | Hàng hóa bị cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng | Hàng hóa, tiền tệ, kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật qua biên giới |
4.2 So sánh với pháp luật quốc tế
4.2.1 So sánh với pháp luật Trung Quốc
Mặc dù các nguồn dữ liệu không cung cấp chi tiết về các điều khoản luật hình sự cụ thể của Trung Quốc về tội danh này, nhưng cho thấy sự tương đồng về mục tiêu chính sách và sự hợp tác thực tiễn giữa hai quốc gia. Việt Nam và Trung Quốc đã tăng cường hợp tác song phương để chống lại các hoạt động buôn bán trái phép xuyên biên giới, đặc biệt là buôn bán động vật hoang dã. Các cơ quan Hải quan hai nước đã thiết lập các cơ chế trao đổi thông tin tình báo và phối hợp trong các chiến dịch chung để triệt phá các đường dây buôn lậu, cho thấy hiệu quả rõ rệt qua các vụ bắt giữ lớn.
Sự hợp tác này phản ánh một thực tế rằng, dù hệ thống pháp luật có thể có những khác biệt, cả hai quốc gia đều coi việc chống tội phạm kinh tế xuyên biên giới là một ưu tiên hàng đầu.
4.2.2 So sánh với pháp luật Singapore
Pháp luật Singapore cho thấy một cách tiếp cận nghiêm khắc và toàn diện hơn so với Việt Nam. Singapore áp dụng các hình phạt rất nặng, thậm chí là án tử hình, cho các tội danh nghiêm trọng liên quan đến hàng cấm như buôn bán ma túy.
Đối với các mặt hàng khác, chính phủ Singapore cũng có các quy định rất chặt chẽ và xử phạt nghiêm minh. Trường hợp công ty Viet-Sin Grocery bị phạt 36.000 đô la Singapore vì nhập khẩu và lưu trữ thực phẩm không có giấy phép hợp lệ là một ví dụ điển hình. Điều này cho thấy pháp luật Singapore không chỉ tập trung vào các mặt hàng nguy hiểm mà còn kiểm soát chặt chẽ mọi mặt hàng nhập khẩu, coi bất kỳ vi phạm nào về giấy phép cũng là một hành vi nghiêm trọng có thể bị phạt tù và phạt tiền nặng.
So sánh này làm nổi bật một triết lý quản lý khác biệt. Trong khi pháp luật Việt Nam tại Điều 191 BLHS tập trung vào các ngưỡng định lượng/giá trị cụ thể để xác định trách nhiệm hình sự , thì pháp luật Singapore dường như ưu tiên sự tuân thủ tuyệt đối các quy định và coi việc vi phạm các quy định này, bất kể giá trị hay số lượng hàng hóa, cũng là mối đe dọa.
5. Tổng hợp và phân tích bản án thực tế
5.1. Phân tích về án lệ và bản án thực tế
Trong giai đoạn từ năm 2020 đến 2025, chưa có án lệ chính thức nào được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao công nhận đối với Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các bản án đã được công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân lại có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Các bản án này cung cấp một nguồn tài liệu quý giá, minh họa cho cách thức mà các Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng các quy định của Điều 191 BLHS trong thực tế. Phân tích các bản án này giúp nhận diện những mô hình và xu hướng xét xử, từ đó rút ra các luận điểm pháp lý quan trọng.
Các bản án đã được công bố về tội danh này trong những năm gần đây chủ yếu liên quan đến hành vi tàng trữ, vận chuyển pháo nổ.
- Bản án số 03/2022/HS-ST của TAND huyện Xuân Trường, Nam Định: Bị cáo Vũ Đ bị phạt 1 năm 6 tháng tù vì vận chuyển pháo nổ để kiếm lời. Tòa án đã tuyên tịch thu và tiêu hủy tang vật là pháo nổ, đồng thời tịch thu số tiền 1.000.000 đồng thu lợi bất chính.
- Một bản án khác về pháo nổ tại TAND huyện BĐ, Bình Phước: Bị cáo Võ Minh L bị bắt khi đang vận chuyển 33,2kg pháo nổ sau khi được thuê với tiền công 500.000 đồng. Tòa án đã khẳng định bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Bản án này nhấn mạnh động cơ phạm tội của bị cáo là vì muốn có tiền tiêu xài.
- Bản án số 14/2025/HS-ST của TAND huyện Triệu Phong, Quảng Trị: Bị cáo Lê Thanh Nguyên phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" theo Điều 191 BLHS.
- Bản án số 22 ngày 23/01/2025 của TAND tỉnh Nam Định: Bị cáo Vũ Đức Thủy bị tuyên phạt 1 năm 3 tháng tù vì tội "Vận chuyển hàng cấm". Tòa án đã tịch thu tiêu hủy 05 giàn pháo hoa nổ và 18 quả pháo nổ. Một chi tiết đáng chú ý là Tòa án đã ra quyết định trả lại xe mô tô cho chị Dương Thị Thu Thuỷ, chủ sở hữu chiếc xe, vì bị cáo chỉ mượn xe để vận chuyển pháo. Điều này cho thấy sự chặt chẽ trong việc xử lý tang vật và phương tiện liên quan, phân định rõ trách nhiệm của người phạm tội và người có quyền lợi hợp pháp.
Các bản án này đều có chung một lập luận: Tòa án luôn nhấn mạnh yếu tố "cố ý", "biết rõ" hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Điều này tái khẳng định quan điểm lý luận về mặt chủ quan của tội phạm là lỗi cố ý, không có chỗ cho lỗi vô ý trong việc định tội.
5.2. Vấn đề định danh và định giá hàng cấm trong thực tiễn
Việc định danh hàng cấm là bước đầu tiên và cơ bản để xác định trách nhiệm hình sự. Pháp luật Việt Nam đã có các danh mục chi tiết về hàng cấm. Tuy nhiên, việc xác định một loại hàng hóa cụ thể có thuộc danh mục này hay không đôi khi cần đến sự hỗ trợ của các cơ quan chuyên môn. Ví dụ, để xác định một vật thể có phải là pháo nổ theo quy định hay không, cơ quan điều tra phải trưng cầu giám định để có kết luận chính thức. Điều này cho thấy tính liên ngành và phức tạp của hoạt động định danh.
Các quy định pháp luật cũng đã xác định các ngưỡng định lượng rất cụ thể cho một số loại hàng cấm phổ biến như pháo nổ (6 kg đến dưới 40 kg cho khung 1) , thuốc lá nhập lậu (1.500 bao đến dưới 3.000 bao) , và thuốc bảo vệ thực vật cấm (50 kg/lít đến dưới 100 kg/lít). Các ngưỡng này giúp việc áp dụng pháp luật trở nên khách quan hơn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao về năng lực nghiệp vụ của các cơ quan điều tra trong việc đo lường và giám định chính xác khối lượng hoặc thể tích tang vật.
Trong trường hợp tang vật là hàng hóa khác mà không có ngưỡng định lượng cụ thể, việc định giá tài sản là căn cứ để xác định khung hình phạt. Quy trình định giá tài sản trong tố tụng hình sự được quy định chặt chẽ, bắt đầu bằng việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá.
Việc định giá được thực hiện bởi Hội đồng định giá tài sản , được thành lập theo quy định của Chính phủ. Hội đồng này thường bao gồm người ra quyết định tạm giữ tang vật (Chủ tịch Hội đồng), đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ quan chuyên môn có liên quan. Kết quả định giá phải được quá nửa số thành viên Hội đồng tán thành và được lập thành biên bản.
Các căn cứ để định giá bao gồm giá thành toàn bộ, chất lượng hàng hóa tại thời điểm định giá, quan hệ cung cầu của hàng hóa trên thị trường và sức mua của đồng tiền. Trong một số trường hợp, nếu có nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu, cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu định giá lại.
Mặc dù quy trình đã được pháp luật hóa, thực tiễn vẫn tồn tại các vướng mắc, đặc biệt khi định giá các tài sản đặc thù như động vật hoang dã, đồ cổ hoặc hàng hóa không có giá thị trường niêm yết. Việc định giá các tài sản này có thể thiếu hướng dẫn cụ thể, dễ dẫn đến sự thiếu chính xác hoặc tùy tiện.
5.4 Khó khăn thực tiễn và vướng mắc áp dụng
Vướng mắc về định danh "hàng cấm": Vấn đề lớn nhất trong thực tiễn áp dụng Điều 191 BLHS là việc thiếu một văn bản pháp luật duy nhất, thống nhất để định nghĩa "hàng cấm". Định nghĩa này nằm rải rác ở nhiều văn bản hành chính khác nhau, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng và công chúng trong việc tra cứu, xác định chính xác đâu là hàng cấm, đâu là hàng hóa bị hạn chế kinh doanh. Điều này có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đồng bộ, thiếu thống nhất.
Khó khăn trong việc chứng minh ý chí chủ quan: Ranh giới giữa hành vi "vận chuyển hàng cấm" và "buôn bán hàng cấm" là vô cùng mỏng manh, phụ thuộc chủ yếu vào ý chí chủ quan của người phạm tội. Trong nhiều trường hợp, việc thu thập chứng cứ để chứng minh ý định "để bán" hay "không để bán" rất phức tạp, đặc biệt khi các đối tượng phạm tội không quen biết nhau hoặc sử dụng các thủ đoạn tinh vi để che giấu. Điều này đặt ra thách thức lớn đối với cơ quan điều tra và kiểm sát.
Thách thức trong công tác giám định: Một số loại hàng cấm có số lượng nhỏ, dễ bị tiêu hủy hoặc phân tán, gây khó khăn cho việc giám định hàm lượng hoặc số lượng chính xác, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm. Mặc dù giám định là hoạt động bắt buộc, việc bảo quản, giám định các loại vật chứng này đòi hỏi quy trình nghiêm ngặt và chuyên môn cao.
Thiếu các văn bản hướng dẫn tổng hợp, cập nhật: Nhiều văn bản hướng dẫn đã cũ hoặc chỉ áp dụng cho một loại hàng hóa cụ thể, không bao quát được toàn bộ các trường hợp phát sinh trong thực tiễn. Hơn nữa, việc các văn bản pháp luật thay đổi, bãi bỏ liên tục như Nghị định 173/2024/NĐ-CP thay thế Nghị định 43/2009/NĐ-CP cũng tạo ra những khoảng trống pháp lý nhất định.
6. Kiến nghị, đề xuất các giải pháp hoàn thiện
Dựa trên phân tích chuyên sâu, báo cáo đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác phòng chống Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm:
Kiến nghị 1: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật đề xuất các cơ quan chức năng, đặc biệt là liên ngành tư pháp Trung ương, sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, thống nhất để làm rõ danh mục "hàng cấm khác" và các phương pháp định giá tài sản đặc thù, đặc biệt là đối với hàng hóa không có giá thị trường niêm yết. Điều này sẽ giúp các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ pháp lý vững chắc hơn, tránh được sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật.
Kiến nghị 2: Nâng cao năng lực chuyên môn tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán để nâng cao khả năng thu thập chứng cứ, phân tích hành vi và xác định chính xác các yếu tố cấu thành tội phạm, đặc biệt là yếu tố "lỗi cố ý" và các tình tiết tăng nặng như "có tổ chức". Đồng thời, cần nâng cao năng lực trong việc xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, làm rõ mối liên hệ giữa hành vi cá nhân và lợi ích của tổ chức.
Kiến nghị 3: Tăng cường hợp tác quốc tế tiếp tục đẩy mạnh và cụ thể hóa các hiệp định hợp tác phòng chống tội phạm xuyên biên giới, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia như Trung Quốc trong việc trao đổi thông tin tình báo và phối hợp hành động. Đồng thời, cần nghiên cứu và tham khảo cách tiếp cận nghiêm ngặt của Singapore trong việc quản lý các mặt hàng có nguy cơ cao để hoàn thiện hơn các quy định trong nước.
Kết luận
Tội danh "Tàng trữ, vận chuyển hàng cấm" theo Điều 191 BLHS 2015, sửa đổi 2017 là một tội phạm nghiêm trọng, phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước trong việc bảo vệ trật tự quản lý kinh tế. Sự tách bạch tội danh này ra khỏi tội "Sản xuất, buôn bán hàng cấm" (Điều 190) là một tiến bộ lập pháp, cho phép cá thể hóa trách nhiệm hình sự phù hợp hơn với tính chất của từng hành vi.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn tồn tại những khó khăn nhất định. Các vướng mắc liên quan đến sự phân mảnh của hệ thống văn bản pháp luật, việc định danh "hàng cấm" thiếu thống nhất và thách thức trong việc chứng minh ý chí chủ quan của người phạm tội là những vấn đề cần được giải quyết. Để nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu tranh với loại tội phạm này, đồng thời đảm bảo tính công bằng và minh bạch của hệ thống pháp luật, các đề xuất về việc ban hành văn bản hướng dẫn tổng hợp, tăng cường phối hợp liên ngành và xây dựng án lệ là cần thiết và có vai trò then chốt.
Trên đây là nội dung mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp đến bạn đọc. Nếu có thắc mắc vui lòng gọi tới tổng đài luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến: 1900.6162 để được chuyên viên pháp luật tư vấn. Xin chân thành cảm ơn!